7 September 2012

Ngôi nhà tuổi thơ Nabokov


Số 47, phố Bolshaya Morskaya Street, thành phố Saint-Petersburg, Liên bang Nga (Санкт-Петербург, Большая Морская улица, дом 47) là địa chỉ quen thuộc với nhiều người hâm mộ Lolita và các tác phẩm khác của nhà văn Nabokov. Hiện nay ngôi nhà tại địa chỉ này này là bảo tàng Nabokov. Nó từng thuộc sở hữu của gia đình nhà văn từ năm 1897. Vladimir Nabokov sinh ra tại ngôi nhà này vào năm 1899 và sống ở đó 18 năm đầu đời. Tháng 11 năm 1917, gia đình ông buộc phải rời bỏ Petrograd (tên hồi đó của thành phố Saint-Peterburg hiện nay). Từ ngày đó cho đến bây giờ, vẻ ngoài của ngôi nhà này hầu như không thay đổi, thậm chí số nhà cũng được giữ nguyên. 

Với Nabokov, đây là căn nhà duy nhất của ông trên toàn thế giới, vì trong cả cuộc đời lưu vong sau này ở châu Âu và Mỹ, ông không bao giờ mua bất cứ một căn nhà nào khác. 


Ngôi nhà của Nabokov ở Saint-Petersburg

Ngôi nhà của Nabokov ở Saint-Petersburg

Ngôi nhà của Nabokov ở Saint-Petersburg

Ngôi nhà của Nabokov ở Saint-Petersburg

3 September 2012

Humbert và Lolita

Lolita và Humbert trong phim Lolita 1997
Lolita và Humbert trong phim Lolita năm 1962



1 September 2012

Con búp bê vải và cuộc nói chuyện ở hàng hiên (chương 11)

Lolita Bản dịch tiếng Việt
Cảnh trong phim Lolita, 1997

Chương 11 có một đoạn tả Humbert, Lolita và Haze ngồi nói chuyện ngoài hàng hiên trong đêm tối:

Thứ Năm. Đêm qua chúng tôi ngồi ngoài hiên, cô Haze, Lolita và tôi. Chiều tàn ấm áp chậm chậm chìm vào bóng tối đắm say. Gái già vừa kể lại cực kỳ tỉ mỉ những tình tiết trong cuốn phim mà thị và L. đã xem hồi mùa đông trước. Chàng võ sỹ quyền anh đang hết sức cùng quẫn lúc chàng gặp thầy tu già tốt bụng (chính ông này từng là võ sỹ trong thời thanh niên trai tráng và vẫn còn có thể đấm gục kẻ phạm tội). Chúng tôi ngồi trên những tấm nệm chất đống trên sàn, L. ngồi giữa gái già và tôi (nàng tự chen vào, mèo con của tôi). Đến lượt mình, tôi bắt đầu bài tường thuật vui nhộn về chuyến phiêu lưu Bắc Cực của mình. Nữ thần sáng tạo dúi vào tay tôi khẩu súng săn và tôi nã đạn vào con gấu trắng làm nó ngồi phịch xuống kêu: Á! Ngay trong lúc ấy tôi cảm nhận sâu sắc là L. đâu đây thôi, lúc tôi vừa luyên thuyên vừa khoa tay múa chân trong bóng tối khoan dung và lợi dụng những cử chỉ không ai thấy được ấy để chạm vào cánh tay nàng, đôi vai nàng và con búp bê vũ nữ ba lê bằng len với vải mỏng trong suốt mà nàng đang nghịch ngợm và cứ cố đặt vào trong lòng tôi; 


Lolita Bản dịch tiếng Việt
Cảnh trong phim Lolita, 1997

Trong phim Lolita năm 1997, cảnh này được quay trên xích đu ngoài vườn. Lolita cũng ngồi giữa Humbert và Haze, cũng nghịch con búp bê,... nhưng có lẽ do quay đêm hơi khó, nên đạo diễn chuyển qua quay ban ngày, và thay vì đống nệm là cái xích đu. 

28 August 2012

Green-Red-Blue

Lolita trong bộ phim cùng tên, năm 1997

Trích đoạn từ chương 11, Lolita. 

Nguyên bản tiếng Anh:

There my beauty lay down on her stomach, showing me, showing the thousand eyes wide open in my eyed blood, her slightly raised shoulder blades, and the bloom along the incurvation of her spine, and the swellings of her tense narrow nates clothed in black, and the seaside of her schoolgirl thighs. Silently, the seventh-grader enjoyed her green-red-blue comics. She was the loveliest nymphet green-red-blue Priap himself could think up. As I looked on, through prismatic layers of light, dry-lipped, focusing my lust and rocking slightly under my newspaper, I felt that my perception of her, if properly concentrated upon, might be sufficient to have me attain a beggar’s bliss immediately;

Bản dịch tiếng Việt: 

Nơi đó người đẹp của tôi nằm sấp, khoe tôi, khoe những con mắt mở to trong dòng máu ngàn mắt của tôi, cặp xương bả vai hơi nhô lên, làn da phấn lượn theo đường cong lưng, độ mẩy đôi mông căng tròn bó chặt trong chiếc quần lót đen, bãi biển bên cặp đùi nữ sinh của nàng. Cô bé lớp bẩy lặng lẽ tận hưởng truyện tranh đỏ-lục-xanh. Nàng là nymphet yêu kiều nhất mà thần Priap đỏ-lục-xanh có thể tự tạo ra trong tâm tưởng. Khi tôi chăm chú theo dõi, qua những lớp ánh sáng nhiều màu, môi khô ran, hội tụ ham muốn của mình và lắc lư nhè nhẹ dưới tờ báo, tôi có cảm giác là tri giác của tôi về nàng, nếu tập trung vào một cách đúng mức, có thể đủ để cho tôi ngay lập tức đạt tới trạng thái cực sướng của kẻ hành khất;

Mô hình màu RGB





Mô hình màu RGB là mô hình màu bổ sung (additive color model) trong đó ánh sáng đỏ, xanh lá cây và xanh lam được tổ hợp với nhau theo nhiều phương thức khác nhau để tạo thành các màu khác. Từ viết tắt RGB trong tiếng Anh có nghĩa là đỏ (red), xanh lá cây (green) và xanh lam (blue) - ba màu gốc trong mô hình này.

Lưu ý rằng mô hình màu RGB tự bản thân nó không định nghĩa thế nào là "đỏ", "xanh lá cây" và "xanh lam" một cách chính xác, vì thế với cùng các giá trị như nhau của RGB có thể mô tả các màu tương đối khác nhau trên các thiết bị khác nhau có cùng một mô hình màu. Trong khi cùng chia sẻ một mô hình màu chung, không gian màu thực sự của chúng lại thay đổi đáng kể.

Tartan Ribbon (Băng vải kẻ ca rô) - Bức ảnh màu đầu tiên trên thế giới
Kỹ thuật chụp: RGB, chụp ba lần với những kính lọc màu khác nhau, sau đó dùng ba máy chiếu sử dụng các kính lọc màu tương đương để hội tụ lên một màn hình.
Người chụp:  James Clerk Maxwell
Năm: 1861


Các màu gốc có liên quan đến các khái niệm sinh học hơn là vật lý, chúng dựa trên cơ sở phản ứng sinh lý học của mắt người đối với ánh sáng. Mắt người có các tế bào cảm quang hình nón nên còn được gọi là tế bào hình nón, các tế bào này thông thường có phản ứng cực đại với ánh sáng vàng - xanh lá cây (tế bào hình nón L), xanh lá cây (tế bào hình nón M) và xanh lam (tế bào hình nón S) tương ứng với các bước sóng khoảng 570 nm, 540 nm và 440 nm.

Mặc dù biên độ cực đại trong phản xạ của tế bào cảm quang không diễn ra ở các bước sóng của màu "đỏ", "xanh lá cây" và "xanh lam", ba màu này được mô tả như là các màu gốc vì chúng có thể sử dụng một cách tương đối độc lập để kích thích ba loại tế bào cảm quang.

Để sinh ra khoảng màu tối ưu cho các loài động vật khác, các màu gốc khác có thể được sử dụng. Với các loài vật có bốn loại tế bào cảm quang, chẳng hạn như chim, người ta có lẽ phải cần tới bốn màu gốc; cho các loài vật chỉ có hai loại tế bào cảm quang, như phần lớn các loại động vật có vú, thì chỉ cần hai màu gốc.

Nguồn: internet.

27 August 2012

Humbert trên sân ga thị trấn Ramsdale

Humbert trên sân ga Ramsdale.
Phim Lolita, 1997.

Tôi trao đổi thư từ với những người này, thuyết phục họ là tôi biết ăn ở sạch sẽ, rồi qua một đêm tuyệt vời trên tàu hỏa, tưởng tượng mọi chi tiết có thể về nymphet bí ẩn mà tôi sẽ dạy kèm bằng tiếng Pháp và mơn trớn bằng cách Humbert. Không ai đón tôi trên sân ga nhỏ như món đồ chơi, nơi tôi xuống tàu với cái túi xách mới đắt tiền, không ai trả lời điện thoại; cuối cùng, dù sao, ông McCoo quẫn trí trong bộ quần áo ướt sũng cũng ló mặt ra tại khách sạn duy nhất của thị trấn Ramsdale xanh đỏ này, báo tin rằng nhà ông vừa cháy ra tro – có lẽ, do bắt lửa từ đám cháy lớn cùng khoảng thời gian ấy, cái đám cháy đã rừng rực cả đêm trong mạch máu tôi. 

Trích đoạn từ chương 10, Lolita.

25 August 2012

Tang vật số hai

Cuốn Nhật ký (mà Humbert gọi là "tang vật số hai") là một chi tiết quan trọng trong Lolita. Humbert ghi chép tất cả cảm xúc hàng ngày vào cuốn Nhật ký của mình, trong đó ghi rõ những suy nghĩ châm biếm, ác cảm về Haze, những dục vọng với Lolita. Sau này, khi đã cưới Haze làm vợ, Humbert luôn cố gắng giấu cuốn Nhật ký nhưng vẫn bị vợ phát hiện ra.

Cuốn nhật ký bỏ túi, bìa đen giả da


Humbert đang viết nhật ký.

Tang vật số hai là cuốn nhật ký bỏ túi, bìa đen giả da, với niên hiệu vàng, 1947, in kiểu en escalier (bậc thang), ở góc trên bên trái. Tôi nói về sản phẩm tinh xảo này của hãng Blank Blank, Blankton, bang Massachusetts, tựa như nó đang thật sự trước mặt tôi. Trong thực tế, nó đã bị tiêu hủy năm năm trước đây, và cái chúng ta xem xét lúc này (nhờ trí nhớ hình ảnh) chỉ là thoáng hiện thân của nó, một con phượng hoàng non trần trụi và yếu ớt.

Tôi nhớ chính xác chuyện này như vậy vì thật ra tôi đã viết nó hai lần. Lần đầu tôi viết nhanh từng mục bằng bút chì (với nhiều tẩy xóa và chỉnh sửa) trên những tờ giấy từ cái vẫn được biết đến với tên thương mại là “sổ tay”; rồi sau đó, lược bỏ đôi chút cho dễ hiểu hơn, tôi chép lại chúng bằng nét chữ nhỏ nhất và ma quái nhất vào cuốn sổ nhỏ màu đen vừa nhắc đến.

Trích đoạn chương 11, Lolita.

23 August 2012

Vài hình ảnh chương 10 trong phim Lolita (1997)

Nói về bước ngoặt đột ngột: chúng tôi suýt nữa thì cán lên chú chó bắng nhắng (một con trong lũ chó ngoại ô thích rình mò ô tô) khi rẽ vào phố Lawn. Xa thêm đôi chút là ngôi nhà cô Haze, một khối kinh tởm trăng trắng, ló ra, nhìn dơ dáy và cũ kỹ, ngả màu xám hơn là trắng – cái loại nhà mà ta biết là sẽ có ống cao su cắm vào vòi nước bồn tắm thay thế cho vòi sen. Tôi bo cho tay tài xế và hy vọng gã sẽ lái xe đi ngay để tôi có thể quay lại khách sạn mà không ai thấy rồi cuốn gói; nhưng gã vừa chạy qua bên kia phố nơi quý bà già nua cất tiếng gọi gã từ cổng nhà bà. Tôi có thể làm gì đây? Tôi nhấn chuông.

Trích đoạn chương 10, Lolita

Lolita Bản dịch tiếng Việt,

Phép lịch sự Cựu lục địa, tuy nhiên, buộc tôi tiếp tục chịu cực hình. Chúng tôi đi ngang qua chiếu nghỉ đầu cầu thang bên tay phải nhà (nơi “tôi sống ở phòng này, còn Lo ở phòng kia”- Lo chắc là chị hầu gái), và vị Khách trọ - Nhân tình khó có thể giấu cái rùng mình khi anh ta, người đàn ông rất kỹ tính, được cho xem trước phòng tắm duy nhất, một khoang chữ nhật bé xíu nằm giữa chiếu nghỉ và phòng của “Lo”, cùng những thứ ướt nhèm mềm oặt vắt vẻo trên cái bồn tắm đáng ngờ (sợi lông cuốn thành hình dấu hỏi trong đó); với cuộn rắn cao su đã đoán trước, và đi cùng bộ với nó – tấm nệm hồng nhạt, bẽn lẽn phủ lên nắp bàn cầu.

Trích đoạn chương 10, Lolita


Lolita Bản dịch tiếng Việt

Lolita Bản dịch tiếng Việt


19 August 2012

Petrarch và Laura


Trích đoạn chương 5, Lolita:

Và khi Petrarch yêu điên dại Laureen, nàng là một nymphet tóc vàng mười hai tuổi, chạy tung tăng trong gió, phấn hoa và bụi, một bông hoa bay lượn trong miền đồng bằng tươi đẹp nhìn từ dãy đồi Vaucluse.


Chân dung Laura

Petrarch ngắm Laura


Francesco Petrarca

Francesco Petrarca (20 tháng 7 năm 1304 - 18 tháng 7 năm 1374) là nhà thơ Ý được xem như ông tổ của thơ mới châu Âu.



Francesco Petrarca sinh ở Arezzo. Bảy tháng sau gia đình chuyển đến Toscana. Năm 1312 cả nhà lại chuyển sang Avignon, Pháp. Năm 1320 Petrarca cùng anh trai sang Bologna học ngành luật. Sau khi bố mất, cả hai anh em trở lại Avignon. Năm 1327, trong ngày Thứ Sáu tốt lành, Petrarca gặp và yêu cô gái có tên là Laura de Noves ở nhà thờ Avignon. Chính Laura là nguồn cảm hứng cho Petrarca viết hàng trăm bài sonetto bất tử.

Sáng tác của Petrarca chia làm hai phần: phần thơ ca viết bằng tiếng Ý và phần những sáng tác khác viết bằng tiếng Latin.

Năm 1337 Petrarca viết thiên sử thi Africa (Châu Phi) về nhà chinh phục Publius Cornelius Scipio Africanus và cuốn De Viris Illustribus (Về những người nổi tiếng). Năm 1341 nghị viện La Mã trao tặng nhà thơ giải thưởng vòng nguyệt quế. Những năm 1342-1343 Petrarca viết cuốn Secretum (Bí mật của tôi), các trường ca Triumphus Cupidinis (Tình yêu lên ngôi), Triumphus Pudicitie (Trí tuệ lên ngôi). Năm 1350 Petrarca làm quen với nhà thơ Giovanni Boccaccio và viết thêm một số tác phẩm như: Triumphus Fame (Vinh quang lên ngôi), Triumphus Mortis (Cái chết lên ngôi)...

Tuy vậy, tác phẩm nổi tiếng nhất của Petrarca là Canzoniere (Quyển sách những bài ca). Đã bao thế kỉ trôi qua nhưng loài người vẫn mãi còn nhớ đến Petrarca với Canzoniere gồm 366 bài sonetto và nhiều bài thơ khác. Canzoniere bao gồm "Những bài ca về cuộc đời của người đẹp Laura" và "Những bài ca về cái chết của người đẹp Laura de Noves". Petrarca nhìn thấy Laura buổi sáng ngày 6 tháng 4 năm 1327 ở Avignon, một ngày Thứ sáu định mệnh. Chàng thi sĩ Petrarca đã yêu nàng ngay từ cái nhìn đầu tiên này như một thứ ánh sáng siêu nhiên ngoài Trái Đất. Khi đó Laura đã lấy chồng được 2 năm, sau này nàng có 11 đứa con. Đó là: Paul, Audebert, Hugues III, Pierre, Jacques, Joannet, Philippe, Augière, Ermessende, Marguerite, Garsende. Còn chàng thi sĩ sau lần gặp cái ánh mắt ấy suốt 21 năm trời ngồi làm thơ ca ngợi một thiếu nữ trinh bạch và thanh khiết. Petrarca đã trút hết tình cảm của mình vào những dòng thơ ca ngợi và dường như Laura cũng từng biết đến những bài thơ này, "nhưng mà em đã thuộc về người khác". Năm 1348 nạn dịch hoành hành khắp châu Âu đã cướp đi sinh mạng hàng triệu người, trong số đó có Laura. Petrarca mất tại Arquà.

Nguồn: internet

18 August 2012

Dante


Durante degli Alighieri hay Dante Alighieri hay, đơn giản hơn, Dante (1265-1321) là nhà thơ, nhà thần học người Ý, tác giả của hai kiệt tác La Divina Commedia (Thần khúc) và La Vita Nuova (Cuộc đời mới). Dante còn được gọi là "Cha đẻ của tiếng Ý". [1]


Lolita Bản dịch tiếng Việt
Chân dung Dante Alighieri's 
Họa sỹ: Sandro Botticelli
1495

Tiểu sử: 

Dante sinh năm 1265 tại Florence, Ý. Không rõ ngày sinh chính xác của ông, mặc dù người ta tin rằng ông sinh vào năm 1265. Có một số nguồn tin cho rằng ngày sinh của ông vào khoảng từ 14 tháng 5 đến 13 tháng 6. Mẹ của Dante, Bella degli Abati, mất khi ông 7 tuổi; ngay sau đó bố của Dante, Alighiero de Bellincione, cưới người vợ thứ hai, Lapa di Chiarissimo Cialuffi, và họ có hai con: em trai Francesco và em gái Gaetana của Dante. Thời trẻ, Dante được Brunetto Latini, một người có kiến thức uyên bác, dạy tiếng Latin và truyền cho niềm thích thú văn chương. Thông qua tiếng Latin mà Dante say mê thơ ca cổ đại và tôn sùng thơ Virgil. Dante còn học tiếng Pháp, tiếng Provençe, đi sâu nghiên cứu thần học, triết học, thiên văn học và trở thành người có kiến thức bách khoa uyên bác bậc nhất ở thời đại ông.

Vào thời đó, Ý chưa phải là một quốc gia thống nhất mà bao gồm hàng chục quốc gia nhỏ, các công quốc tự trị. Chính những phân hóa sâu sắc trong xã hội Ý thời bấy giờ đã dẫn đến những cuộc chiến tranh giữa các tiểu quốc và cả những cuộc nội chiến trong từng tiểu quốc.

Dante biết yêu và làm thơ từ rất sớm. Ngay từ khi 12 tuổi gia đình ông đã hứa hôn với gia đình của Gemma di Manetto Donati, tuy rằng ông đã yêu một cô gái khác tên Beatrice Portinari, con gái của Folco Portinari. Những bài thơ về mối tình tuổi thiếu niên sau này được gom lại thành tập La Vita Nuova. Năm 1295 Dante tham gia hoạt động chính trị, đứng về phái Guelfi đối lập với phái Ghibellini. Năm 1289 phái Guelfi thắng thế nhưng rồi lại chia ra thành phe Đen và phe Trắng. Dante theo phe Trắng, kiên quyết chống lại đường lối dựa vào Giáo hoàng. Giáo hoàng cầu viện Hoàng tử Pháp Charles de Valois. Năm 1301 quân Pháp tiến vào Firenze, phe Đen lưu vong trở về tổ chức đàn áp phục thù. Dante bị kết án hai lần, phải rời bỏ quê hương đi sống lưu vong và mai danh ẩn tích. Thời kỳ này ông bắt đầu viết La Divina Commedia.

Dante mất năm 1321 tại Ravenna.

Tác phẩm: 

Dante là tác giả của các tập Rime (Thơ), Il convivio (Bữa tiệc), De vulgari eloquentia (Về hùng biện đại chúng), De monarchia (Về chế độ quân chủ)... Tuy vậy, những tác phẩm này chỉ một số ít các nhà nghiên cứu quan tâm, còn độc giả khắp thế giới hầu như chỉ biết hai kiệt tác: La Vita Nuova (Cuộc đời mới) và La Divina Commedia (Thần khúc).

Tác phẩm La Vita nuova (Cuộc đời mới) bao gồm thơ và văn xuôi, viết về tình yêu của Dante với Beatrice Portinari. Nhà thơ nhìn thấy ở người con gái trần tục này một ý tưởng thánh thần được thể hiện qua những con số: "Số 3 là nguồn gốc của số 9, ba lần ba là chín. Như vậy, nếu 3 có thể sinh ra 9 thì điều kì diệu ở trong mình – Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Linh – ba trong một. Từ đó rút ra kết luận rằng: người con gái này là số 9, nghĩa là điều kì diệu và nguồn gốc của điều kì diệu này là "Tam vị nhất thể". Những lập luận này thể hiện tinh thần của thời đại bấy giờ nhưng phải nói rằng nhà thơ đã dũng cảm khi đem người yêu của mình so sánh với Ba Ngôi thần thánh.

Dante gặp Beatrice lần đầu khi nàng lên 9 tuổi. "Linh hồn của cuộc sống" này đã bao trùm lấy tâm hồn Dante. Beatrice chỉ khẽ nghiêng mái đầu cúi chào mà đã làm chàng Dante đem lòng yêu ngay lập tức. Chàng vội về nhà viết bài thơ đầu tiên về nàng. Chín năm sau, khi nàng đã 18 tuổi, hai người hay gặp nhau ngoài đường phố, nhưng Dante cũng không biết gì nhiều về nàng. Hễ nhìn thấy Beatrice là Dante lại luống cuống, xúc động, không thể làm chủ được bản thân và tự nhủ lòng sẽ không bao giờ tìm gặp Beatrice nữa. Những chi tiết này được Dante mô tả rất tỉ mỉ trong La Vita Nuova. Sau đó Beatrice đi lấy chồng nhưng tình yêu của Dante đối với nàng vẫn không hề suy giảm. Ngược lại, tình yêu này là nguồn cảm hứng cho Dante viết ra hai kiệt tác La Vita Nuova và La Divina Commedia. Beatrice mất năm 1290. Dante khóc suốt một năm ròng và những người đương thời kể rằng họ không bao giờ còn nhìn thấy Dante cười nữa. Dante và Beatrice Portinari trở thành một biểu tượng của tình yêu đôi lứa trong văn chương thế giới như Petrarca và Laura de Noves, Tristan và Isolt, Romeo và Juliet.

La Divina Commedia (Thần khúc) là một tác phẩm thơ đồ sộ gồm ba phần: Địa ngục (Hell), Tĩnh ngục (Purgatory), Thiên đường (Paradise). Mỗi phần có 33 khúc, cộng 1 khúc mở đầu, tất cả là 100 khúc với hơn 14.000 câu thơ. Người ta vẫn thường gọi La Divina Commedia là "Kinh Thánh của thời Trung cổ". Trong tác phẩm vĩ đại này, Dante đặt ra cho mình một mục đích vĩ đại: giúp loài người thoát khỏi nỗi sợ hãi trước cái chết. Nhiệm vụ này ở thời bấy giờ là vô cùng quan trọng: trong linh hồn con người có một nỗi sợ về những cực hình ở Địa ngục mà người ta vẫn nghe qua những lời rao giảng và thuyết giáo. Khác với những nhà triết học theo trường phái Epicurus, Dante không khuyên người đời quên đi cái chết, hay như những nhà triết học thế kỉ Ánh sáng, khẳng định rằng Địa ngục là do các cha đạo nghĩ ra, Dante tin rằng Địa ngục là có thật và chỉ có sự Can đảm, Danh dự và Tình yêu có thể giúp con người thoát khỏi Địa ngục. Thần khúc mở đầu bằng những lời cay đắng về cái chết của Beatrice nhưng tác giả bỗng nhiên hiểu ra rằng nàng là con người cao thượng, trong trắng và không thể chết. Thế là linh hồn của Beatrice Portinari, với sự giúp đỡ của nhà thơ Virgil đã dẫn Dante và người đọc đi hết các tầng ngục, chứng kiến hết những nỗi kinh hoàng của Địa ngục.

Trên cánh cổng vào Địa ngục có dòng chữ "kẻ vào đây hãy quên niềm hy vọng" nhưng Virgil khuyên Dante hãy quên nỗi sợ hãi, vì rằng chỉ với đôi mắt mở to thì con người mới có thể nhìn ra nguồn gốc của mọi cái ác. Cũng theo Dante thì linh hồn con người có thể bị đày xuống Địa ngục ngay cả khi thân xác còn sống nhởn nhơ nơi dương thế, bởi Địa ngục không phải là một địa điểm hay nơi chốn cụ thể nào, mà Địa ngục là một "trạng thái của lòng người". Người nào sống trong lầm lỗi sẽ rơi vào trạng thái đó. Ngay cả lầm lỗi của lòng thù hận – cả người trả thù và nạn nhân của sự trả thù đều bị đày xuống Địa ngục, và khi nạn nhân còn căm thù kẻ đã hành hạ mình thì vẫn chưa thể thoát ra khỏi Địa ngục.


Nguồn: internet


[1] http://it.wikipedia.org/wiki/Dante_Alighieri