Showing posts with label Đồn. Show all posts
Showing posts with label Đồn. Show all posts

18 December 2019

Đừng biến mình thành nguồn gieo rắc năng lượng xấu



Báo Nhân Dân



Trẻ, thông thạo nhiều ngoại ngữ, làm kinh doanh giỏi, dịch giả Thiên Lương được biết đến nhiều trong vài năm gần đây nhờ bản dịch các tác phẩm thuộc hàng kinh điển của văn hào gốc Nga Vladimir Nabokov. Facebooker Thiên Lương (ảnh bên) còn được nhiều công dân mạng biết tới với cách nhìn nhận vấn đề luôn logic, khách quan, duy lý, anh cũng là đối trọng của một bộ phận cư dân mạng có thói quen chê bai. Vẫn tâm thế tự tin, lạc quan và hài hước, dịch giả - facebooker Thiên Lương trò chuyện cùng Nhân Dân hằng tháng ngay khi dư vị mùa xuân còn phảng phất:


Là một du học sinh được đào tạo bài bản ở nước ngoài, rồi một ngày, bút danh Thiên Lương bỗng đình đám trên văn đàn vì bản dịch tác phẩm văn học hay và khó đọc vào bậc nhất: Lolita của Nabokov. Anh muốn tìm kiếm sự nổi tiếng bằng cách tự làm khó chính mình, hay vì quá thất vọng với thực trạng dịch thuật văn học trong nước, hoặc một lý do nào đó thuần khiết hơn?

Câu chuyện về bản dịch Lolita của tôi khá thú vị. Thật ra ai theo dõi từ đầu đều biết nó xuất phát từ một cuộc tranh luận nổi tiếng trên báo chí và mạng xã hội. Do những lỗi dịch quá hiển nhiên thậm chí ngay từ những dòng đầu tiên của bản dịch Dương Tường, nên có khá nhiều người muốn dịch lại kiệt tác này. Tuy nhiên mọi người bỏ cuộc rất nhanh sau vài ba trang đầu. Nói chung, theo tôi dịch thuật không phải là công việc có thể làm theo nhóm. Mặc dù có nhiều ý kiến trái chiều về các cuộc tranh luận dịch thuật, nhưng tôi cho rằng chúng rất có ích vì không thể để kéo dài mãi tình trạng “đọc không thông mà dịch rất thạo”, nói cho cùng thì bản dịch nào cũng phải bám sát bản gốc chứ không thể bịa ra cho xuôi tai rồi nhận là đồng tác giả được. Không rõ ngày xưa thế nào chứ ngày nay thì việc phóng tác đó là một sự vi phạm bản quyền nghiêm trọng. Bất cứ hợp đồng bản quyền dịch nào cũng có lưu ý đến điều này! Trên thực tế thì cuộc tranh luận về Lolita cũng đưa đến kết quả tích cực là dịch giả phải công khai xin lỗi vì đạo chú thích, nhà sách phải tiến hành biên tập lại toàn bộ cuốn sách, và độc giả có thêm một bản dịch mới. Ngoài việc Lolita là một kiệt tác đặc biệt, luôn được xếp hạng đầu trên văn đàn thế giới, tôi thích Nabokov còn vì ông ấy là một người con của nước Nga vĩ đại, và dẫu có viết tiếng Anh thì chất Nga trong văn chương của ông ấy vẫn rất rõ. Một điều đáng tiếc là mặc dù được đánh giá rất cao trên văn đàn thế giới nhưng cho đến nay văn học Nga chưa được tôn trọng đúng mức ở Việt Nam, một số tác phẩm lớn của họ tuy đã được dịch ra tiếng Việt nhưng hầu hết bị dịch qua ngôn ngữ thứ ba, và dĩ nhiên chúng ta đều biết rằng bản dịch qua ngôn ngữ trung gian sẽ có chất lượng kém.

Cũng giống như anh, facebooker Thiên Lương nhiều năm qua, trên trang cá nhân của mình đã không ngừng phân tích, chỉ ra tư duy cảm tính, theo số đông của một bộ phận cộng đồng mạng Việt Nam, nhất là khi cư dân mạng bày tỏ quan điểm, cách nhìn nhận về các vấn đề xã hội liên quan đến số đông. Trên mạng xã hội có cụm từ “auto chửi”, chỉ những “công dân mạng”, luôn chửi bới, phản bác bất cứ một chủ trương chính sách mới nào. Facebooker Thiên Lương làm cách nào để luôn giữ được thái độ điềm đạm, khách quan, thậm chí hơi hài hước để khai mở cho một đám đông bất mãn?

Ta có thể thấy, ở ngoài đời khi gặp đám cháy trong nhà hát, đám đông thường dồn hết về một chỗ để rồi kẹt cứng ở đó chứ ít ai bình tĩnh nghĩ xem còn lối nào khác để thoát thân. Một điều dễ thấy là đám đông facebook cũng tương tự thế, có một dạng trí tuệ tập thể. Facebook là một môi trường đặc biệt phù hợp với trí tuệ tập thể do nó được xây dựng sao cho kích thích đám đông tự dạy nhau cách đưa tin để được like nhiều. Thành thử nhiều khi một cá nhân được đám đông dạy cho cách viết, chứ không phải là ngược lại. Nhiều người nổi tiếng trên facebook Việt Nam, viết bài thường được vài nghìn like, nhưng tôi thấy chẳng khác gì những diễn viên thú trong rạp xiếc. Thời gian đầu mới lên mạng, họ khá hiền lành, mỗi ngày than thở vài câu, tản mạn dăm dòng, tối đến làm nửa tá thơ cóc, chia sẻ ảnh vợ con, cảnh đẹp quê hương đất nước... Đến một ngày nọ, do bức xúc gì đó, họ chửi bới xã hội, chính quyền, được like nhiều hơn rất nhiều, thế là họ nhớ cái cảm giác được like ấy. Khi họ quay lại viết thơ, tản mạn, tâm sự, chụp ảnh, nói những điều tử tế thì chẳng mấy ai quan tâm. Dần dần họ trở thành một kẻ chê bai mọi thứ. Thật ra rất nhiều facebooker là nạn nhân của những kẻ like họ, bị đám đông huấn luyện, chứ không phải là người dẫn dắt đám đông như họ lầm tưởng về mình. Tại sao tin xấu được like nhiều thì do bản năng con người thôi, khi đọc tin xấu có lẽ họ được an ủi. Còn nói về không khí chung thì tôi không nghĩ xã hội bên ngoài có nhiều người bất mãn như trên facebook. Cuộc sống thật tươi đẹp và lạc quan hơn nhiều so với những gì chúng ta chứng kiến hằng ngày trên mạng. Tuy nhiên triết lý của facebook làm cho sự bất mãn dễ cộng hưởng, làm cho cái xấu và tin tức giả mạo dễ lan truyền nhanh và rộng. Đó cũng là điều mà rất nhiều người, thậm chí lãnh đạo của facebook, nhận ra rồi. Tuy nhiên hiện nay họ vẫn kiếm được rất nhiều tiền từ đó, cho nên khó có hy vọng là họ sẽ làm gì để thay đổi triệt để.

Mới đây, để đáp trả lại một bộ phận bi quan trước bảng xếp hạng GDP bình quân đầu người một số quốc gia Đông - Nam Á, khi thấy GDP Việt Nam thua cả nước bạn Lào, anh viết, có đoạn: “Đời thế nào là do cái tâm ta mà ra cả. Nếu muốn kích động dân chống chế độ, thì nhìn cái bảng này thấy Việt Nam thua hết, hơn mỗi Campuchia. Còn nếu nhìn với cái tâm sáng, thì thấy Việt Nam tăng trưởng thần kỳ, từ chỗ bằng 1/2 Lào, 1/7 Philippines, nay đã gần đuổi kịp. Và cứ thế này hai thập niên nữa thì ta chắc chỉ còn thua mỗi Singapore”. Một status mạch lạc, khoa học, logic và công tâm của anh trên facebook cá nhân rất thuyết phục, và dường như “bóc trần” được tâm thế thật của số không ít người tham gia mạng xã hội?

Đám đông luôn có kiểu tư duy thiên về cảm tính, không dựa trên số liệu và không biện chứng, không đặt sự việc trong bối cảnh liên quan. Còn nếu nhìn với cái tâm sáng thì ai cũng phải thấy những thành tựu vượt bậc trong kinh tế và mọi mặt khác trong xã hội. Xuất phát điểm của đất nước chúng ta rất thấp, mặc dù trước 1975, miền bắc có thu nhập GDP trên đầu người tương đương miền nam bất chấp chi tiêu của hàng trăm ngàn lính Mỹ ở miền nam, nhưng cả hai miền đều nghèo nhất châu Á. Trước cách mạng, tỷ lệ người dân mù chữ lên đến 95%. Chiến tranh kéo dài cũng làm chúng ta thiệt hại nặng nề về mọi mặt. Chỉ sau hơn hai thập niên đổi mới, hiện nay tuy còn thua kém nhưng khoảng cách giữa chúng ta và các nước khu vực đã giảm xuống rất nhiều, và nếu duy trì được tốc độ phát triển như những năm gần đây thì chỉ độ hai chục năm nữa Việt Nam sẽ vượt một số nước trong khu vực, và lọt vào 20 nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới. Vì vậy chúng ta nên lạc quan hơn với tương lai đất nước, và thật sự thì tình hình chung đang tốt đẹp về mọi mặt. Chính Tổng thống Mỹ còn phải ca ngợi sự phát triển thần kỳ của Việt Nam, tại sao chúng ta lại phải bi quan? Nhiều khi đám đông tư duy rất định kiến, y như trẻ con vậy, trong khi mọi số liệu hiện nay đều rất dễ tìm thấy trên internet, mà người ta vẫn chỉ tin vào những gì người ta muốn tin và chỉ nhìn thấy cái đã in sâu vào đầu họ. Không phải lúc nào tư duy lý tính thuần túy cũng tốt, như tổ tiên ta vẫn nói: làm gì cũng phải có tình, có lý. Tuy nhiên nếu coi “một bồ cái lý không bằng một tí cái tình” thì cũng không tốt, nhất là trong thời đại toàn cầu hóa như ngày nay, khi chúng ta phải làm việc với những cường quốc có cách suy nghĩ rất duy lý.

Một số tác phẩm của Nabokov do Thiên Lương dịch
Theo anh, liệu có cách nào để cộng đồng mạng trong nước tham gia mạng xã hội văn minh, tích cực và đúng pháp luật hơn?

Tôi nghĩ Nhà nước nên xử lý nghiêm các trường hợp đưa tin thất thiệt, kích động chia rẽ dân tộc, phân biệt chủng tộc và xuyên tạc đường lối chính sách. Thực tế chúng ta cũng thấy người dân bắt đầu nhận thức được sự bất tín của các nguồn tin trên mạng, ngày trước các facebooker phản động rất dễ nhận được hàng nghìn like với các bài viết nhảm nhí xuyên tạc, hoặc các tấm hình bị sửa đổi, còn hiện nay thì rất nhiều người đã vào phản đối chúng. Và có nhiều bạn trẻ đã tự lập ra các trang riêng để phản bác lại luận điệu của các nhóm phản động quá khích. Theo sự phát triển tất yếu của đất nước thì mạng xã hội cũng văn minh theo thôi. Tuy nhiên những đất nước phát triển quá nhanh như chúng ta còn gặp vấn đề về khoảng cách thế hệ. Những người cũ, lớn lên trong thời kỳ đất nước quá khó khăn, chia nhau từng mảnh áo, cân thịt, tất nhiên sẽ khó có tiếng nói chung với các bạn trẻ mới ra trường vài năm mà lương đã hàng chục triệu mỗi tháng. Trong bối cảnh hiện nay, chúng ta nên có trách nhiệm với đất nước hơn chứ đừng chạy theo vài cái like ảo trên mạng và để đám đông huấn luyện, chi phối, rồi tự biến mình thành những nguồn gieo rắc năng lượng xấu cho mọi người.

Trân trọng cảm ơn dịch giả - facebooker Thiên Lương!
Mi Sol (Thực hiện)


17 December 2019

‘Mashenka’ của Nabokov: Tiểu thuyết đầu tay khởi nguồn cho những cay đắng



‘Mashenka’ của Nabokov: Tiểu thuyết đầu tay khởi nguồn cho những cay đắng
Mashenka ở bảo tàng Nabokov tại St. Petersburg

Bài trên Thể Thao Văn Hóa

Sau khi giới thiệu nhiều tác phẩm lớn về sau của Vladimir Nabokov, dịch giả Thiên Lương mới đây đã dịch và xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tiên của đại văn hào người Nga, Mashenka.

“Mashenka là tiểu thuyết đầu tay của tôi. Tôi bắt đầu làm việc với nó ở Berlin, ngay sau khi lập gia đình vào mùa xuân năm 1925”, Nabokov nói viết trong lời tựa cho ấn bản ở Mỹ.

Nói tới tiểu thuyết đầu tay, ít nhiều sẽ có cảm giác về sự ngây ngô, non tay. Điều này không hẳn sai, nhưng lại cũng chẳng hẳn là xấu. Đặc biệt với những nhà văn lớn, sẽ là điều thú vị dành cho độc giả khi được gặp lại họ vào thời điểm các trải nghiệm đều non mới (như Những đêm trắng của Fyodor Dostoyevsky) và nhất là, thỉnh thoảng lại có những riêng tư được gài gắm.

Mặc dù sinh thời luôn phản bác chuyện gắn tác phẩm với kinh nghiệm đời thực của tác giả, tuy nhiên, trong tiểu thuyết đầu đời đặc biệt này, bản thân Nabokov thừa nhận đã vi phạm nguyên tắc của mình: “Thiên hướng ai cũng biết của người mới vào nghề trong việc xâm phạm sự riêng tư của chính mình, bằng cách tự giới thiệu mình, hoặc một thế nhân, vào tiểu thuyết đầu tay, ít nhờ vào sự hấp dẫn của chủ đề có sẵn hơn là vào sự khuây khỏa do thoát được khỏi chính mình trước khi vươn tới những điều tốt đẹp hơn”.

Cụ thể, sẽ có những tương đồng nhất định giữa các kỷ niệm của Nabokov với nhân vật Ganin, giữa nàng Mashenka với nàng Tamara của ông và ở cả những khung cảnh làng quê giữa thực và truyện. Hơn thế nữa, Mashenka có thể coi là khởi thủy cho các nhân vật nữ trong những kiệt tác sau này của Nabokov.

Cụ thể, trong bài phỏng vấn với tạp chí Vogue, ông đã ngầm thừa nhận “mối quan hệ, nếu có, giữa nữ nhân vật đầu tiên của tôi và Ada gần đây của tôi”. Tuy không nhắc tới Lolita, tuy nhiên, độc giả dễ dàng ướm Ganin và Mashenka với chút gì đó của Humbert và Annabel. Tất cả đều kết thúc trong cay đắng.

Chú thích ảnh
Mashenka là bản dịch thứ 8 của dịch giả Thiên Lương


Nhưng cần phải nói rằng, dù Mashenka có những yếu tố ngây thơ, có tình tiết riêng tư, nhưng nó phần nào giống như một dạng prequel (tiền truyện), tức là đứng ở vị trí một lão làng hiện tại để giải mã quá khứ, chứ không phải người chập chững lần đầu cầm bút sáng tác.

Thật vậy, chỉ qua vài trang đầu, người hâm mộ Nabokov dễ dàng nhận ra văn phong cũng như chủ đề quen thuộc sẽ được ông khai thác sâu về sau, trong hầu hết mọi tác phẩm. Đó là khả năng sử dụng tính từ chuẩn xác, cảm thức tha hương, tàn ác với nhân vật, thậm chí thói giễu nhại Freud và đặc biệt, là những cú đánh đột ngột. Trong khi độc giả đang thư thái lang thang ở một góc phố tĩnh lặng, đẹp đẽ thì Nabokov bỗng từ đâu kéo giật họ lại vào một ngõ hẻm, nơi những cảm xúc hổ thẹn đi bỗng bị lột trần.

Mashenka, do Thiên Lương dịch, dài 176 trang, vừa ra mắt vào hè này và hiện có thể mua rộng khắp tại các tiệm sách cũng như trên các trang mua bán trực tuyến.

Thư Vĩ

2 September 2018

Vẻ đẹp văn chương của Vladimir Nabokov

Vẻ đẹp Nga quá vãng qua nhãn quan tràn đầy lòng trắc ẩn, nuối tiếc của Nabokov. Khép sách lại, là một giọt nước mắt lăn xuống cho thân phận những người Nga tha hương

Tôi đã ngần ngại đọc "Mỹ nhân Nga" (Thiên Lương dịch, NXB Văn học ấn hành) bởi lẽ, hồi ức khi đọc "Lolita" (Dương Tường dịch, NXB Hội Nhà văn xuất bản 2015) trong tôi là khó nhằn và ám ảnh. Nabokov luôn kìm độc giả đọc chậm, đọc kỹ, nhẩn nha. Sách không dành cho người đọc vội, đọc lướt, cũng không dành cho ai đang mệt mỏi, trầm uất, vì có khi nó khiến người ta xuống tinh thần hơn. Sách dành cho ai thật cân bằng, tĩnh tại, vì đọc Nabokov vừa là để thưởng thức vừa là để luyện trí não vừa là để tìm kiếm cái đẹp của văn chương.
"Phù thủy ngôn từ"
Nabokov là nhà văn chú trọng đến ngôn ngữ miêu tả. Từ ngữ như khắc, như chạm, kiệm lời nhưng có hồn, như nhảy múa, ca hát, như gợi trước mắt chúng ta. Tôi thích nhất cách Nabokov miêu tả thiên nhiên, khung cảnh, không gian, cảnh vật,… Tôi đọc đi đọc lại những đoạn miêu tả mà mình nghĩ chỉ có cỡ Nabokov mới có thể viết được như đoạn tả buổi đêm trong "Lá thư đến nước Nga", đoạn này gợi tôi nhớ đến "Hai đứa trẻ" của Thạch Lam. Đoạn tả toa tàu trong truyện ngắn "Mối tình đầu" đẹp như cổ tích, đoạn tả buổi sáng ở biển trong truyện "Cuộc ẩu đả" chan hòa ánh nắng với "dòng nước tuôn như cái quạt bạc mềm dẻo từ ống cao su lấp lánh, lúc bay về phía mặt trời, lúc lại uyển chuyển sà xuống các bụi cây run rẩy"; "mây hè trôi thành đoàn hành hương bồng bềnh - những đám mây hình lạc đà, những đám mây hình túp lều. Mặt trời cố luồn qua giữa chúng, song chúng phủ các rìa sáng lòa lên nó, không trung tắt dần, rồi ánh hào quang lại chín mọng",… rất nhiều đoạn miêu tả khiến ta phải đọc chậm, trầm ngâm, tưởng tượng trước mặt mình khung cảnh ấy. Nabokov là nhà văn được mệnh danh "phù thủy ngôn từ", với quan niệm "chữ được ban cho quyền lực cao cả để sáng tạo…" (Hành khách, tr.119).
Vẻ đẹp của lòng trắc ẩn
Khi đọc "Lolita", nhiều người phân vân về tính nhân văn của tiểu thuyết, họ đặt câu hỏi tại sao Nabokov lại miêu tả kỹ lưỡng chân dung một nhân vật bệnh hoạn đến thế, có khá nhiều độc giả đã dị ứng và bài xích Nabokov. Nhưng đến tập truyện ngắn này, 100% độc giả sẽ thấy Nabokov rất nhân văn. Ông rất hay miêu tả những con người vô danh, lầm than, cùng quẫn như chàng làm thuê, cô gái điếm, những người bị tật nguyền, khiếm khuyết thể xác hoặc tinh thần,… Nabokov dành cảm tình đặc biệt cho người già. Hơn một nửa số truyện trong tập này kể về những người Nga lưu vong già nua sống âm thầm ở châu Âu một cách mòn mỏi, lê lết, hoài nhớ về cố quốc trong những chuỗi ngày chán chường, buồn bã, vô vị. Cách miêu tả những chi tiết vặt vãnh để minh họa cho chủ đề "con người nhỏ bé" đó của Nabokov trong trường hợp này đạt hiệu quả đặc biệt, "chẳng lẽ không phải mỗi nhà văn đều chính là kẻ vẫn bận tâm với những thứ vặt vãnh đó sao?"(Hành khách, tr.113). Thủ pháp "miêu tả các vật thể bình thường"(Cẩm nang du ngoạn Berlin, tr.65) của Nabokov nổi bật như một đặc trưng nghệ thuật của ông, ví dụ ông có thể tả cái tất chân, tả vết tàn nhang, cái mũi nhọn, cái máy trợ thính,… đều mang tính cụ thể để khái quát cá tính nhân vật.
Vẻ đẹp văn chương của Vladimir Nabokov - Ảnh 1.
Tập truyện "A Russian Beauty" (Vẻ đẹp Nga)Ảnh: TRẦN LÊ
Vẻ đẹp nhân hậu và trắc ẩn của Nabokov mềm mại đến nỗi khiến độc giả yêu thương luôn các nhân vật của ông, sợ chẳng may kết thúc làm đau nhân vật của mình. Ví dụ như câu chuyện về kết thúc cuộc đời của cô gái xinh đẹp quý tộc Nga (Mỹ nhân Nga), cách báo tin về cái chết của cậu con trai cho người mẹ (Báo tin), số phận của chàng trai bị thiểu năng (Dấu hiệu và biểu hiện), cuộc đời lang thang của hai anh em song sinh dính liền (Cảnh đời một quái vật kép),…Nabokov thường chọn kết thúc lửng lơ, nửa chừng theo cách "đem lại ấn tượng bất ngờ bằng cách kết thúc tự nhiên nhất" (Hành khách, tr.119). Lạ thay, kết thúc này không làm độc giả hụt hẫng mà thở phào vì đỡ chứng kiến sự đau đớn có thể tưởng tượng nếu kết thúc đi đến tận cùng.
Nuối tiếc quá vãng
Nabokov tự nhận mình là "nhà văn tha hương" (Lá thư đến nước Nga, tr.42). Gần hết 17 truyện ngắn trong tập truyện đều bàng bạc dấu vết Nga. Hồi ức Nga đậm đặc trong từng chữ, câu, suy nghĩ của nhân vật: thuốc lá Nga, quý tộc Nga, mỹ nhân Nga, các ngày lễ kiểu Nga, thậm chí đến cả cách cắt tóc của thợ cạo Nga,… Sinh ra ở Petersburg, Nabokov thường xuyên nhắc đến thành phố tuyệt đẹp này với những ký ức không thể nào quên như đại lộ Nevski chẳng hạn. Không mang màu sắc hận thù, dè bỉu, chỉ có nỗi nhớ quay quắt về nước Nga như truyện "Ma Cây", "Lá thư đến nước Nga", "Mối tình đầu", "Mưa Phục sinh", "Mỹ nhân Nga", "Dao cạo",…
Lấy tựa truyện "A Russian Beauty" (Vẻ đẹp Nga) làm tựa chung cho cả tập truyện, mặc dù truyện được dịch là "Mỹ nhân Nga" vì nhân vật chính là một cô gái quý tộc Nga xinh đẹp, tôi có cảm giác dịch giả có lẽ cũng muốn nói đến chủ đề chung của tập truyện này: Vẻ đẹp Nga quá vãng qua nhãn quan tràn đầy lòng trắc ẩn, nuối tiếc của Nabokov. Khép sách lại, là một giọt nước mắt lăn xuống cho thân phận những người Nga tha hương. 
TRẦN LÊ HOA TRANH

https://nld.com.vn/van-nghe/ve-dep-van-chuong-cua-vladimir-nabokov-20180604211319688.htm

4 December 2017

Tự sự về một kẻ đánh mất quê hương

HẢI ĐĂNG

Bài đăng trên báo Thời Nay, một ấn phẩm của Nhân Dân



Không bao giờ trở về nước Nga kể từ năm 1918, “tư cố hương” vì vậy là chủ đề lớn trong văn nghiệp của Vladimir Nabokov (1899 - 1977), mà minh chứng sống động nhất là “Pnin” - cuốn tiểu thuyết đem lại cho tác giả đề cử giải thưởng danh giá National Book Award năm 1958.



Nội dung của “Pnin” như nhan đề giản đơn của sách tường thuật quãng đời trầm lặng của vị GS gốc Nga Timofey Pnin. Đến Mỹ theo lời khuyên từ đồng nghiệp cũ, “giấc mơ Mỹ” của Pnin sớm kết thúc khi chỉ được phân công dạy tiếng Nga tại trường đại học địa phương Waindell. Khác biệt về văn hóa cùng sự sùng bái nghệ thuật Nga biến mọi hành động của Pnin trở thành một chuỗi hình ảnh kỳ quặc trong mắt các giảng viên và sinh viên đại học.

Mang nhiều nét tương đồng với cuộc đời V.Nabokov, hình tượng Pnin là một bức tự họa trào phúng của tác gia kiêm giáo sư văn chương thiên tài và cực đoan này. Như tiểu sử nhà văn, Pnin đã tham gia lực lượng “bạch vệ” phản cách mạng từ năm 18 tuổi. Khi nội chiến Nga kết thúc, Pnin đã lưu vong qua Đức, Pháp và cuối cùng đặt chân lên Mỹ. Nhưng không ở đâu mà Pnin được toại nguyện với việc ngợi ca ngôn ngữ Nga, được bình phẩm về những áng văn chương của Tolstoy hay chìm đắm trong miền thôn quê xứ bạch dương hoang vắng và bình yên. Tại Mỹ - “miền đất hứa”, người ta chỉ coi Pnin - như một “khách ở trọ” phiền nhiễu, xếp sau cả các giáo sư văn chương bất tài cùng những nhà nữ quyền nửa mùa. Bi kịch đến đỉnh điểm khi Pnin tình cờ xem được một bộ phim tài liệu Xô-viết “hết thảy là nghệ thuật thuần túy, những dịp hội hè đình đám, và niềm hân hoan trong các công việc tuy cực nhọc nhưng rất đáng tự hào”. Đôi mắt Pnin đã nhòa lệ, song thói ngoan cố vẫn khiến Pnin tự nhủ mình thật “kỳ quặc, lố bịch, nhục nhã”. Tác phẩm để mở kết thúc bằng chi tiết Pnin phải nghỉ việc dạy học tại Waindell.

Ẩn chứa cái nhìn và ngôn ngữ kể chuyện của một kẻ “thiếu quê hương” nhưng tiểu thuyết “Pnin” không sa vào những chủ đề phi chính trị của một vài nhà văn lưu vong như “người đương thời” Solzhenitsyn hay S. Rushdie sau này. Thay vào đó, bằng những hồi tưởng và vốn văn hóa uyên thâm của mình, V.Nabokov đã khéo léo phục dựng một đất nước Nga vĩ đại với nền nghệ thuật đáng khâm phục qua câu chuyện bi hài về GS Pnin “có đôi chân gầy guộc” cùng thứ “tiếng Anh trọ trẹ”.

Vốn là “gã hề trong rạp xiếc” văn chương với thú chơi chữ, phong cách giễu nhại hài hước đến cay nghiệt như nhận xét của I. Bunin, V.Nabokov đã “phù phép” những ngày tháng quạnh hiu của Pnin hóa thành tràng cười sảng khoái với nhiều độc giả. Nhưng sau tiếng cười ấy, người đọc phải rùng mình trước nỗi bất hạnh mà Pnin đang nếm trải chỉ vì sự bồng bột của tuổi trẻ, những nghịch cảnh do chiến tranh gây ra mà không ít tác phẩm văn học Xô-viết nổi tiếng như “Sông Đông êm đềm”, “Người thứ 41” từng lột tả thành công.

(Tiểu thuyết “Pnin”, Vladimir Nabokov, Thiên Lương dịch, NXB Văn học 2017).

2 December 2017

Dấu ấn của cảm thức lưu vong trong tiểu thuyết Nabokov

Mặc dù, "Lolita" là cuốn sách của Nabokov được độc giả biết đến nhiều nhất, nhưng "Pnin" đã tạo dựng danh tiếng cho ông với vai trò một nhà văn sử dụng ngôn ngữ Anh độc đáo.

Pnin là tiểu thuyết thứ 4 được viết bằng tiếng Anh của Nabokov. Từ khi bắt đầu xây dựng nhân vật Pnin, Nabokov đã có kế hoạch viết một loạt những câu chuyện về nhân vật này, để đăng trên tờ New Yorker, sau đó sẽ tập hợp lại thành một cuốn sách, nhằm đảm bảo thu nhập cho ông trong khi ông tìm cách liên hệ với các nhà xuất bản để in Lolita.

Khi Nabokov gửi bản thảo tiểu thuyết Pnin hoàn chỉnh cho vài nhà xuất bản của Mỹ vào mùa thu năm 1955, họ đã từ chối vì lý do là “quá ngắn”. Đến tháng 8/1956, Doubleday đã đồng ý xuất bản cuốn sách. Pnin chính thức có mặt trong các hiệu sách của nước Mỹ vào tháng 3 năm sau, và nhanh chóng nổi tiếng.

Tác phẩm tạo được cơn sốt trên đất Mỹ, biến Nabokov trở thành tác giả nổi tiếng. Ngay tuần thứ hai sau khi ra mắt, Pnin đã được tái bản và Nabokov được tạp chí Newsweek đánh giá là “một trong các nhà văn tinh tế nhất, hài hước nhất, cảm động nhất nước Mỹ ngày nay”. Pnin cũng được đề cử tranh giải National Book Award for Fiction năm 1958.

Tiểu thuyết Pnin của Nabokov với bản dịch Việt ngữ của Thiên Lương.


Pnin là câu chuyện về Timofey Pnin, một giáo sư lưu vong dạy tiếng Nga tại Waindell College ở New York. Tác  phẩm đã tái hiện lại một bức tranh hài hước nhưng đầy sầu muộn của tri thức Nga lưu vong, giữa cuộc sống đầy những phức tạp trên đất Mỹ hiện đại thực dụng.

Nabokov rời quê hương sau khi kết thúc những năm thiếu niên. Năm 1919, ông cùng gia đình đã tới được nước Anh và theo học tại Trinity College, Đại học Cambridge. Nabokov thành công trong việc hòa nhập với đời sống mới bằng thứ ngôn ngữ tiếng Anh hoàn hảo. Ông là một những câu chuyện thành công trong hàng ngũ những kẻ tha hương. Nabokov không chỉ sống như một nhà văn bằng ngôn ngữ mới, ông còn là tác giả nổi bật của nền văn học Mỹ hiện đại.

Tuy nhiên, trước khi Nabokov đạt được vinh quanh, bản thân ông cũng đã trải qua những bi kịch cá nhân cay đắng. Cha của ông đã bị một người Nga lưu vong khác giết. Anh trai ông, Sergei, cũng chịu sự khổ nhục và cái chết đau đớn tại một trại tập trung của Đức.

Bi kịch của gia đình cũng khiến mối tình của ông với Svetlana Siewert tan vỡ. Sau này, cuộc hôn nhân của ông với Véra Evseyevna Slonim cũng đem lại rất nhiều khốn khó cho gia đình bởi gốc gác Do Thái của bà.

Ngày 19/5/1940, Nabokov đến Mỹ không phải để tìm kiếm danh vọng và sự giàu có mà bởi sự tuyệt vọng cuối cùng để trốn thoát Đức Quốc xã, khi chúng bước chân vào Paris chỉ vài ngày sau đó.

Trước khi đến Mỹ, Nabokov đã trải qua hai thập kỷ sống lưu vong như một người đàn ông không quê hương ở Đức và Pháp. Ông, cũng giống như vô vàn những nhà văn lưu vong của thế kỷ 20 như Thomas Mann, Elias Canetti, Aleksandr Solzhenitsyn, Isaac Bashevis Singer, Czesław Miłosz và Joseph Brodsky… quá thấm thía những nỗi đau thương, nhung nhớ và mất mát của kẻ buộc phải rời bỏ quê hương, đã cùng nhau tạo nên những tác phẩm văn chương đầy day dứt về lớp người lưu vong này.

Giáo sư Pnin chính là một nhân vật khơi dậy sống động hình ảnh của một tri thức lưu vong. Nabokov đã biểu đạt sắc sảo những trải nghiệm của bản thân, đồng thời thâm nhập vào nội tâm kín đáo của nhân vật một cách đầy tinh tế, trìu mến, đã tạo nên một người đàn ông loay hoay hòa nhập với đời sống mới, khi tâm tư trĩu nặng những ưu sầu hoài nhớ về cố hương.

Như thường lệ, Nabokov thể hiện sự vượt trội của mình về chi tiết. Xuyên suốt cuốn tiểu thuyết, ông đặc biệt nhấn nhá với những khoảnh khắc xúc cảm bất chợt rung động của Pnin, đột ngột xen giữa những cảnh huống hài hước.

Như trong chương một của cuốn tiểu thuyết, sau những đoạn khiến khán giả bật cười vì sự “khờ khạo” của Pnin, trong cách ông đi nhầm tàu, cách ông phát âm tiếng Anh không rõ từ… chính là nhấn vào trạng thái cảm xúc của “Chút rờn rợn bắt nguồn từ cơn đau mới đây đang lôi cuốn sự chú ý mê hoặc của ông. Nó chỉ kéo dài vài nhịp tim”.

Cơn đau tim xuất hiện trong rất nhiều khoảnh khắc của cuộc đời Pnin. Liền sau đó là vô vàn những ảo ảnh của mất mát, chết chóc, chia lìa, buồn thảm xuất hiện trước mắt ông.

Chương một kết thúc ở đó, đầy nỗi buồn, và cũng chính là cánh cửa mở ra cho độc giả nhận diện về Pnin, một người đàn ông đầy những xúc cảm, suy tư và tử tế.

Ở những chương sau, hình thức câu chuyện vẫn diễn ra theo cách đó. Giữa những tình huống mắc kẹt của Pnin, Nabokov cho thấy sự thất bại của ông với cuộc sống ở Mỹ, bằng một chất văn chương nhiều nét châm biếm, hóm hỉnh nhưng cũng sâu thẳm nhiều cảm động.

Tâm hồn Pnin hoàn toàn khác biệt so với vẻ ngoài xấu xí, già nua, thất bại của ông. Tâm hồn Pnin là một tâm hồn đẹp đẽ, hoài vọng, lưu giữ những nét quyến rũ cố hữu của người Nga.

Cái cách ông đối xử với người vợ cũ, và cách ông chăm sóc Victor, con trai của vợ đã làm bật lên tính tử tế, ấm áp sâu xa của một tâm hồn đẹp. Hình ảnh Pnin rất ngốc khi nói tiếng Anh, nhưng lại trở nên sắc bén trong những tranh luận về văn chương Nga, ngôn ngữ Nga, về Lev Tolstoy hay Dostoyevsky….

Pnin sống ở Mỹ, nhưng lại đắm chìm trong một không gian nước Nga mộng mơ cũ kỹ. Nước Nga ấy cắm rễ sâu trong lòng ông, thường tấn công ông bằng nỗi nhớ quặn thắt, bằng lòng hoài nghi buốt nhói.

Pnin trên đất Mỹ cũng là hình ảnh một kẻ không nhà. Ông “lang thang” từ nhà trọ này tới nhà trọ kia. Với những phòng trọ đầy sách vở, ông vẫn cặm cụi học, đọc và dạy cái thứ tiếng đang ngày càng “hèn mọn”.

Cho đến chương cuối cùng, ông tìm được một ngôi nhà nhỏ, ở đó, ông bày biện nó giống như ngôi nhà trong giấc mơ của mình. Ngôi nhà nhỏ với những món đồ ấm áp mà ông từng khao khát có được từ những ngày còn ở quê nhà. Rốt cuộc, cuộc đời ông sau đó vẫn là phải không quê hương, không nhà ở.

Tiểu thuyết Pnin, cũng như hầu hết các tiểu thuyết của Nabokov đều ẩn giấu đầy những ẩn dụ, những lớp lang. Câu chuyện về một người đàn ông tha hương, hay là câu chuyện về một tâm hồn chỉ còn ký ức để trú ngụ, là sự cô đơn, lạc loài, hay chính là sự bất hạnh của thế hệ, trước những biến động của lịch sử. Tâm hồn sâu thẳm của con người vẫn là điều Nabokov cần mẫn khai mở.

Bối cảnh chính trong Pnin cũng là bối cảnh của biết bao nhiêu tri thức châu Âu khi đối diện với nền văn minh thực dụng của đất Mỹ, đã được nhìn nhận rõ trong môi trường đại học. Ở đó những người lưu vong hoài nhớ quá khứ của mình một cách bệnh hoạn, đầy cao quý nhưng đầy mộng du.

Môi trường đại học giống như một xã hội thu nhỏ, trong đó hành vi xã hội và chính trị có thể được quan sát rõ ràng trong mối tương tác của các nhân vật. Từ đó tạo ra những tình huống hài hước, đồng thời làm bật lên tâm tư yếu đuối của mỗi con người, trong xúc cảm lưu vong.

Nabokov là một thiên tài văn chương, vẫn luôn khiến độc giả thán phục bởi cách ông làm tỏa sáng những điều “nhỏ bé”. Pnin được viết quanh quẩn xung quanh một người đàn ông tầm thường là thế, nhưng lại là một cuốn tiểu thuyết khơi dậy lòng cảm động sâu sắc. Chính tình cảm là thứ đã khiến người đàn ông bình thường Pnin tỏa sáng. Tình cảm là thứ khiến độc giả say đắm tiểu thuyết Pnin.

Một người đàn ông tầm thường, có thể lẫn với vô vàn người trong đám đông, nhưng Nabokov đã lưu giữ Pnin lại, thâm nhập sâu vào thế giới tâm hồn ông, và tạo nên một kiệt tác văn chương buồn bã nhưng đẹp đẽ và dịu dàng về một con người.

Pnin là tác phẩm có vị trí quan trọng trong văn nghiệp của Nabokov.


Tiểu thuyết Pnin có tiền thân là một truyện ngắn, được sáng tác sau khi Nabokov hoàn thành cuốn tiểu thuyết độc đáo và đầy tranh cãi, Lolita. Với sự ám ảnh không dứt về thế giới đen tối của Humbert trong Lolita, Nabokov tạo ra Pnin. Nhân vật đó là một hình ảnh hoàn toàn trái ngược với Humbert.

Nếu Humbert đẹp trai quyến rũ, tiếp xúc với người vợ của mình chỉ với mục đích “gần gũi” cô con gái Lolita vừa 12 tuổi, thì Pnin lại là một người đàn ông xấu xí, có phần khờ khạo, nhưng tử tế, ấm áp. Cách Pnin đối xử với người vợ cũ hay cậu con trai của vợ, cũng đầy dịu dàng. Đó là cách Pnin tạo nên sự ấm áp.

Nỗi ám ảnh của Humbert chính là sự thèm khát, nỗi ám ảnh của Pnin là sự hoài nhớ… Ở họ là tất thảy đối lập, nhưng Nabokov dựng nên hai thế giới đối lập ấy đều từ một vẻ đẹp lộng lẫy, ám ảnh đến mức cực đoan. Cuối cùng, Pnin hay Humbert đều phải chịu đựng bi kịch, từ chính nỗi ám ảnh của họ, đầy khắc khoải nhưng luôn thật đẹp.

Nabokov đã từng chia sẻ rằng, trong Pnin ông đã tạo nên một nhân vật hoàn toàn mới, chưa từng xuất hiện trong cuốn sách nào khác của ông. Pnin là một người đàn ông thuần khiết, có đạo đức, lòng can đảm. Ông là một học giả, một người bạn trung thành, một người yêu sâu nặng. Với Nabokov, Pnin là một sự an ủi.

Thủy Nguyệt
https://news.zing.vn/dau-an-cua-cam-thuc-luu-vong-trong-tieu-thuyet-nabokov-post800132.html

22 January 2017

Kiệt tác “Mây, hồ, tháp” của Vladimir Nabokov

Có những tác giả mà ta nên đọc một lần trong đời, và Vladimir Nabokov (Nga) là một trong số ít tác giả như vậy.


Mây, hồ, tháp


Sinh năm 1899 tại Nga và mất năm 1977 tại Thuỵ sỹ, văn hào vĩ đại này đã sống qua 2 thế kỷ, 2 cuộc thế chiến, và tại khắp các thành phố vĩ đại nhất của châu Âu: Cố đô Saint-Peterburg của Nga, Yalta, Berlin, Paris,… Cuộc đời ông trải qua cả những tháng năm vàng son của một gia đình tư sản Nga, thậm chí khu bất động sản ông được thừa kế ở ngoại ô Saint-Peterburg hiện nay có giá trị hơn 200 triệu USD, cho đến những ngày tháng phải đi dạy tennis và đấm bốc để kiếm sống nuôi gia đình. Tuy nhiên, cuối cùng ông cũng vượt lên khỏi mọi gian khó để trở thành một trong các nhà văn vĩ đại nhất của nhân loại.
Trong kho báu di sản văn chương Vladimir Nabokov, thì Tổng tập truyện ngắn của ông là một trong các tác phẩm được đánh giá cao nhất. Bao gồm 68 truyện ngắn được viết suốt những năm thanh niên và trung niên, tại nhiều nước trên thế giới, và qua nhiều giai đoạn thăng trầm khác nhau của sự nghiệp, Tổng tập này cho độc giả và các nhà nghiên cứu thấy được bức tranh toàn diện nhất về cuộc đời nhà văn, thấy sự hoàn thiện dần dần kỹ năng viết của ông, cách sử dụng từ rất đặc trưng cho Nabokov, các thủ pháp văn chương cũng như những phác thảo về các nhân vật sau này trong các tiểu thuyết lớn nhất của ông.
Rất nhiều truyện ngắn trong bộ sách được đánh giá như những kiệt tác vĩ đại nhất của văn chương nhân loại, chẳng hạn “Dấu hiệu và Biểu hiệu”, “Xuân Fialta”, “Mây, hồ, tháp”, “Chị em nhà Vane”… Rất nhiều nhà văn đã chịu ảnh hưởng từ Nabokov, và không ít nhà văn coi ông là người thầy của mình.
Mây, hồ, tháp

Do sự phức tạp, bút pháp cầu kỳ, vốn từ rất rộng lớn và cực kỳ khó dịch, nên văn chương Nabokov ít được biết đến tại Việt Nam. Gần một thế kỷ đã trôi qua từ khi nhà văn thành danh tại châu Âu và Mỹ, vậy mà chỉ có vài cuốn sách của ông xuất hiện trong bản dịch tiếng Việt. Dịch Nabokov là một công việc nghiêm túc, đòi hỏi sự am hiểu văn hoá Nga, Mỹ, châu Âu cũng như vốn sống nhất định và chắc chắn là kỹ năng sử dụng tiếng Việt ở mức cao nhất. Cũng không có gì lạ, là nhiều bản dịch tác phẩm Nabokov không được đánh giá cao tại nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. 
Việc Nhà xuất bản Văn học và Công ty Zenbook cho ra đời “Mây, hồ, tháp” - quyển 2 của bộ Tổng tập truyện ngắn Nabokov chỉ sau khi quyển 1 với cái tên “Mỹ nhân Nga” được xuất bản cách đây hơn 4 tháng đã cho thấy rằng Nabokov bắt đầu được quan tâm hơn tại Việt Nam. Nhiều độc giả đã thấy được vẻ đẹp huyền bí và sắc sảo của các tác phẩm của ông, và có lẽ sự thành công của cuốn sách “Mỹ nhân Nga” đã giúp cho nhà xuất bản mạnh dạn đầu tư cho dịch giả Thiên Lương tiếp tục chuyển ngữ những tác phẩm hết sức phức tạp và tinh tế của Vladimir Nabokov. 
Tất nhiên mỗi mảng sách có thị trường riêng của mình. Sách ngôn tình có độc giả của nó, sách tô màu có khách hàng của nó, sách dạy làm giàu, dạy ăn chay, giữ sức khoẻ cũng rất có ích cho mọi người. Nhưng văn chương đỉnh cao cũng như âm nhạc cổ điển, phim nghệ thuật, ballet, opera,… vẫn có những người hâm mộ trung thành. Và một nền văn hoá không thể thiếu vắng cả cái này, cả cái kia. Nghệ thuật hàn lâm có thể có ít khách vào những tháng năm gian khổ của dân tộc, nhưng cùng với sự thịnh vượng, thì sẽ càng ngày càng có nhiều người tìm về với nó như một niềm tin vào vẻ đẹp thánh thiện trên những bậc thang cao hơn của cảm xúc. 
Mặt khác, nước Nga vĩ đại vốn có một nền văn chương hàng đầu thế giới, tuy nhiên trước đến giờ, hầu như không có tác phẩm lớn nào của các nhà văn Nga được dịch nghiêm túc và từ ngôn ngữ gốc qua tiếng Việt. Hầu hết được dịch qua ngôn ngữ thứ ba, chẳng hạn tiếng Pháp, Anh hay Hoa, và làm mất đi rất nhiều chất văn cũng như tính Nga trong tác phẩm. Điều đó cũng dễ hiểu thôi. Trong bối cảnh ấy thì việc “Mây, hồ, tháp” cũng như “Mỹ nhân Nga” đều được dịch giả Thiên Lương dịch từ ngôn ngữ gốc mà Vladimir Nabokov dùng để sáng tác, có thể coi như một nỗ lực đáng ghi nhận với văn chương Nga và độc giả Việt. 
Theo đại diện công ty phát hành sách, thì mặc dù chưa bán được đến hàng chục vạn cuốn như các dòng văn học mực tím hay truyện ngôn tình, nhưng cả “Mỹ nhân Nga” và “Mây, hồ, tháp” đều nhận được sự quan tâm lớn của độc giả, nhiều hơn nhiều so với dự tính của họ khi làm dòng sách cao cấp này. Và đó cũng là niềm tin để những người làm sách sẽ tiếp tục cố gắng đưa thêm các tác phẩm kinh điển của Vladimir Nabokov và các nhà văn lớn khác vào Việt Nam.

Xuân Sang

Bài đã đăng trên báo Laodong.

19 January 2017

'Mây, hồ, tháp' - thêm một kiệt tác của Nabokov

Bản dịch của Thiên Lương

Bài đăng trên báo Thanh Niên.



Chưa đầy 5 tháng sau khi phát hành Mỹ nhân Nga, quyển 1 trong bộ Tổng tập truyện ngắn Nabokov bao gồm tất cả 4 quyển, nhà xuất bản Văn học và Công ty Zenbook tiếp tục cho ra đời quyển 2 với tên Mây, hồ, tháp. Người dịch vẫn là dịch giả Thiên Lương. 

Với một tác giả nổi tiếng là khó dịch như Nabokov, thì việc dịch xong 17 truyện ngắn và cho xuất bản thành một cuốn sách dày 320 trang chỉ trong vòng 5 tháng, là một nỗ lực rất lớn của nhà sách và dịch giả, đặc biệt nếu tính đến thời gian biên tập, xin giấy phép xuất bản và thủ tục in ấn rất chậm cuối năm, thì có lẽ dịch giả chỉ mất khoảng 3 tháng cho bản dịch phức tạp và dày dặn này.

Một nhà văn gây nhiều tranh cãi

Vladimir Nabokov, nhà văn Mỹ gốc Nga, vốn nổi tiếng là một nhà văn của các nhà văn, có danh tiếng ngang với các đại văn hào như Shakespeare, Lev Tolstoy, Dostoevski, Chekhov. Tuy nhiên, do cách tư duy hình ảnh và cách viết cầu kỳ, quý tộc, siêu văn bản, lại chịu ảnh hưởng từ tiếng Nga mẹ đẻ, nên văn chương của ông không dễ đọc với độc giả bình thường. Không ngẫu nhiên mà Edmund Wilson, một nhà phê bình văn chương nổi tiếng, từng nhận xét rằng Nabokov nhiều khi viết bằng một thứ tiếng không hẳn là tiếng Anh. Nhân thể: các cuộc bút chiến dữ dội giữa Nabokov và Edmund vừa được in thành sách (The Feud) và nhận được nhiều chú ý của độc giả Anh - Mỹ. Thực sự thì cách viết của Nabokov có lúc rất lãng mạn, dịu dàng, mềm mượt, lại có lúc khô khan, cứng rắn và hết sức tàn nhẫn. Phải đi cùng ông khá lâu thì độc giả mới bắt đầu bắt được mạch văn và khi đó thì họ sẽ bị chinh phục tuyệt đối. Tuy nhiên, thời gian trả lời cho tất cả, Nabokov đã ghi danh vào lịch sử như một văn hào vĩ đại, còn Edmund thì chẳng còn được mấy ai nhớ đến.

Mây, hồ, tháp


Trong Xuân Fialta, một trong các truyện ngắn được in trong Mây, hồ, tháp có một đoạn văn mà Nabokov viết về một nhà văn là chồng của cô gái tình nhân của người kể chuyện như sau:

Lúc tôi gặp y thì sách y đã nổi tiếng; nỗi hân hoan nông nổi mà thoạt đầu tôi cho phép mình khi đọc y, đã bị thay thế bằng cảm giác hơi ghê tởm. Khi y bắt đầu nghiệp viết thì xuyên qua các cửa sổ sơn phết thuộc thứ văn xuôi dị thường của y vẫn còn có thể nhận ra được khu vườn nào đó, bố cục lơ mơ quen thuộc nào đó của cây cối... nhưng sau mỗi năm thì nét vẽ trở nên mỗi lúc một dày đặc hơn, màu hồng và màu tía mỗi lúc một hăm dọa hơn; giờ thì đã chẳng còn thấy được gì qua tấm kính quý đáng sợ ấy nữa, và có cảm giác rằng nếu đập vỡ nó thì chỉ có một thứ duy nhất phang vào tâm hồn là màn đêm đen kịt và hoàn toàn trống rỗng. Nhưng y từng nguy hiểm làm sao trong thời sung sức của mình, từng phun những chất kịch độc nào, từng quất những nhát roi quyết liệt nào, nếu y bị đụng chạm đến! Sau khi cơn cuồng phong của y đi qua, y để lại sau mình một mặt nước phẳng lặng trơ trụi, nơi cây cối đổ rạp nằm bằng bặn, bụi còn cuồn cuộn, và người điểm sách hôm qua, tru lên vì đau, quay như con cù trong bụi.

Chính đoạn văn này khiến cho nhiều học giả cho rằng Nabokov đã châm biếm chính bản thân mình và cũng dự báo những cuộc bút chiến không khoan nhượng sau này giữa ông và nhiều nhà phê bình.

Những kiệt tác văn chương của Nabokov

Mặc dù được biết đến nhiều hơn với các tiểu thuyết, nhưng Nabokov cũng rất thành công trong địa hạt truyện ngắn. Trong hầu hết các bảng xếp hạng truyện ngắn Anh ngữ hay nhất, Nabokov luôn có vài tác phẩm ngự ngay chiếu trên, thậm chí hạng đầu. Và nếu như trong quyển 1 (Mỹ nhân Nga) đã có kiệt tác Dấu hiệu và Biểu hiệu, truyện ngắn luôn được xếp hạng đầu tiên trong các truyện ngắn Anh ngữ hay nhất lịch sử, thì trong quyển 2 (Mây, hồ, tháp) này, có Xuân Fialta cũng là một kiệt tác hết sức đặc biệt, luôn nhận được những đánh giá cao nhất của giới văn chương Anh Mỹ.

Xuân Fialta được Vladimir Nabokov viết xong vào tháng 4.1936, đăng lần đầu trên tạp chí Sovremennie zapiski, số 61, tháng 7.1936, tại Paris; bản dịch tiếng Anh do Nabokov và Peter Pertzov thực hiện được in trong các tuyển tập Nine Stories, 1947 và Nabokov’s Dozen, 1958. Mặc dù bản dịch tiếng Anh (với cái tên Spring in Fialta) không còn giữ được nguyên vẹn chất văn ban đầu của tác giả, nhưng nó vẫn được coi là một trong các viên ngọc quý giá của văn chương Anh ngữ, đánh dấu sự chín muồi của tài năng Nabokov, với kỹ thuật viết đạt đến độ hoàn hảo và có thể nói Xuân Fialta, với cả độ dài của nó (hơn 10 ngàn âm tiết tiếng Việt) và cách xây dựng tuyến nhân vật, câu chuyện, các ẩn dụ, chất thơ,… đã vượt hẳn lên trên các truyện ngắn bình thường, có thể coi là một tiểu thuyết ngắn của Nabokov.

Mây, hồ, tháp - truyện ngắn được dịch giả chọn làm tên cho cả cuốn sách, cũng là một tác phẩm hết sức đặc biệt. Mặc dù ai cũng biết sự ác cảm của Vladimir Nabokov với Freud, tuy nhiên các biểu tượng trong truyện ngắn này lại rất đậm chất phân tâm học và ẩn dưới bề ngoài khiêm nhường của một câu chuyện buồn thương về cảnh đời một người lưu vong trong chuyến đi giữa những kẻ xa lạ nơi đất khách quê người, lại là những điều lớn lao hơn rất nhiều, bao trùm thân phận con người nói chung chứ không riêng một mình ai.

"Mây, hồ, tháp" - Quyển 2 của Tổng tập truyện ngắn Nabokov
Những câu chuyện bên ngoài tác phẩm luôn là điều khiến cho một tác phẩm văn chương thực sự có được khác biệt với vô số truyện ngắn, truyện dài tầm thường khác. Và Vladimir Nabokov là một thiên tài trong việc tạo dựng quanh tác phẩm của mình những thế giới cảm xúc lớn hơn nhiều so với những gì độc giả bình thường nhìn thấy.

Khó đọc và đương nhiên là khó dịch, các kiệt tác của Nabokov đều rất vất vả mới tìm được đường đến độc giả của các nước không nói tiếng Anh. Tuy nhiên, những văn hào vĩ đại như ông cần được đọc và nghiên cứu kỹ ở mọi nơi, vẻ đẹp từ thế giới của họ sẽ làm cho người ta thấy được những tầng cao hơn, những vách núi kỳ vĩ hơn, những vực sâu hơn của cảm xúc, và làm cho cuộc sống có ý nghĩa hơn.

Thanh Bình 

16 January 2017

Tuyển truyện ngắn thứ hai của Nabokov đến với độc giả Việt

 "Mây, hồ, tháp" – quyển 2 của bộ Tổng tập truyện ngắn Nabokov vừa được dịch giả Thiên Lương và NXB Văn học đưa đến với độc giả Việt Nam.

Chấn Hưng

Zing

Sau quyển 1 với tựa đề Mỹ nhân Nga ra mắt giữa tháng 8/2016, quyển 2 này mang lại cho những người đam mê văn học Nga và văn chương đỉnh cao thêm 17 kiệt tác của một trong các nhà văn vĩ đại nhất của nhân loại, người vẫn được coi như nhà văn của các nhà văn.



Là văn hào Mỹ gốc Nga, Vladimir Nabokov viết hàng chục truyện ngắn và tiểu thuyết bằng tiếng Nga sau khi rời tổ quốc qua châu Âu sống vào năm 1919. Tuy nhiên, từ lúc chuyển sang Mỹ vào năm 1940, ông bắt đầu sáng tác bằng tiếng Anh.

Tổng tập truyện ngắn Nabokov bao gồm toàn bộ 68 tác phẩm của ông.

Do được viết trong hàng chục năm, qua nhiều quốc gia, bằng cả tiếng Anh và Nga, nên 68 truyện ngắn này có thể coi như những cột mốc quan trọng, phản chiếu các thay đổi tư tưởng cũng như sự hình thành phong cách bậc thầy của Nabokov.

Rất nhiều tác phẩm có thể coi như bản thu gọn của các tiểu thuyết lớn của ông, và nhiều nhân vật, chi tiết được phác thảo từ chính các truyện ngắn này.

Mây, hồ, tháp - Tập truyện ngắn thứ hai của Vladimir Nabokov vừa ra mắt độc giả Việt Nam.tion

Theo lời dịch giả Thiên Lương, mặc dù mỗi tác phẩm của Nabokov đều có nét đặc sắc riêng, tuy nhiên trong quyển 2 của bộ tổng tập vẫn có những truyện ngắn đặc biệt nổi trội.

Chẳng hạn: Xuân Fialta - không chỉ được đánh giá là một trong những truyện ngắn hay nhất, được viết rất trữ tình và phóng khoáng với những chi tiết châm biếm hết sức đặc trưng của Nabokov, mà còn được nhiều học giả nhận định như một tự truyện ẩn chứa nhiều bí mật cuộc đời tác giả.

Chính ông xuất hiện thấp thoáng cả trong vai người kể chuyện cũng như người chồng của tình nhân anh ta. Xét trên mọi phương diện, có thể nói rằng Xuân Fialta vượt hẳn ra ngoài mọi chiều kích của một truyện ngắn thông thường.

Mây, hồ, tháp - không chỉ đơn giản kể về chuyến du lịch kỳ lạ nơi đất khách của một người lưu vong Nga, mà còn ẩn giấu vô số dấu hiệu và biểu hiệu của Nabokov về tình yêu với gia đình, với quê hương, cùng các ẩn ức tình dục sâu kín nhất trong lòng người đàn ông.

Lance - truyện ngắn cuối cùng của Nabokov và cũng là tác phẩm khoa học viễn tưởng gần như duy nhất của ông, được viết hết sức cầu kỳ với những tiên đoán vượt thời gian về ngành du hành vũ trụ tương lai lồng ghép cùng thi ca và những suy ngẫm của chính tác giả về gia đình mình.

Cuộc trở về của Chorb là một tác phẩm đậm chất điện ảnh từng được chọn làm tên chung cho một tuyển tập nổi tiếng của ông,

Nỗi sợ (1926) - đi trước Buồn nôn (La Nausée) của Jean-Paul Sartre hơn chục năm về một số sắc thái tư tưởng nhất định.

Vladimir Nabokov: Nhà văn của các nhà văn

Có thể dễ dàng thấy điểm chung trong các truyện ngắn của Nabokov: hồi ức đau buồn và kiêu hãnh về nước Nga vĩ đại mà ông buộc phải từ giã khi còn rất trẻ và bỏ lại sau lưng không chỉ những năm tháng thanh xuân tươi đẹp mà cả một gia tài khổng lồ.

Tuy nhiên, nhà văn không để mình kẹt lại lồng bẫy vàng son dĩ vãng ấy mà đã tự xây dựng cho mình một thế giới mới, vượt lên trên những xót xa tiếc nuối tầm thường - một thánh đường văn chương kỳ vĩ với các nhân vật dễ sợ được bày ra ngoài mặt tiền và trên các tháp chuông cao ngất...

Nhưng nếu ai gạt bỏ được định kiến và kìm nén được nỗi sợ để bước những bước nhỏ thành kính vào đó qua các cánh cửa oai nghiêm nặng nề, thì biết đâu, sẽ tìm được sự bình yên, sắc màu thiên đường và vẻ đẹp thánh thiện không thuộc về thế giới trần tục bên ngoài.

4 October 2016

"Mỹ nhân Nga" của Nabokov - một thách thức về văn chương và dịch thuật

17 truyện ngắn của văn hào vĩ đại Vladimir Nabokov vừa được NXB Văn học và Công ty Zenbook xuất bản tại VN trong cuốn Mỹ nhân Nga. Dịch giả Thiên Lương là người trực tiếp thực hiện việc chuyển ngữ.

Nhà văn của các nhà văn

Vladimir Nabokov sinh năm 1899 tại cố đô Saint Petersburg của Nga, và qua đời năm 1977 tại Montreux, Thụy Sỹ. Ông là nhà văn nổi tiếng thế giới với nhiều kiệt tác như Pnin, Ada hay Ardor, Lửa nhạt,  Nói đi, Ký ức, Lolita và bộ Tổng tập truyện ngắn bao gồm toàn bộ 68 truyện ngắn ông từng sáng tác trong đời.

Mặc dù Nabokov có danh tiếng lừng lẫy trên văn đàn thế giới, nhưng các tác phẩm của ông hầu như chưa được dịch ra tiếng Việt ngoài Lolita và Tiếng cười trong bóng tối. Nguyên nhân do phong cách viết của ông giàu hình ảnh, đa nghĩa, cầu kỳ, chơi chữ rất tuyệt vời, ngoài ra còn theo thủ pháp dòng ý thức (stream of consciousness) rất khó dịch qua tiếng Việt. Sự khác biệt quá lớn giữa văn hóa Việt, Nga và Mỹ cũng làm cho việc chuyển ngữ rất dễ gặp sai lầm, thậm chí làm hỏng toàn bộ tác phẩm chỉ vì các lỗi dịch. Các tác phẩm của những nhà văn viết theo phong cách này đều rất khó dịch và rất kén độc giả. Marcel Proust, James Joyce, Virgina Woolf cũng là các văn hào nổi tiếng với những tác phẩm viết theo phong cách này, và rất đáng tiếc là các tác phẩm lớn của họ vẫn chưa được dịch ra tiếng Việt, và một vài bản dịch hiếm hoi thì không mấy thành công và thậm chí phải hứng chịu rất nhiều lời than phiền về chất lượng dịch.

Ngoài ra, Nabokov còn là giáo sư văn chương đại học, nên ông sử dụng các kỹ thuật viết cực kỳ sáng tạo, với vốn từ vựng vô cùng phong phú. Trong cuốn Lolita, Nabokov sử dụng đến 14.000 từ đơn nhất, để so sánh, có thể lấy ví dụ cuốn Bắt trẻ đồng xanh của J.D. Salinger chỉ sử dụng 3.500 từ đơn nhất. Hầu hết các tiểu thuyết tiếng Anh sử dụng vốn từ vựng trong khoảng 3.000 - 5.000. Hiển nhiên là việc dịch một tác phẩm được viết với vốn từ lên đến 14.000 sẽ phức tạp theo cấp số nhân so với các tác phẩm dùng vỏn vẹn vài ba ngàn từ.


Các thách thức dịch thuật

Khó dịch, khó đọc và khó có độc giả bình dân là những lý do khiến các công ty sách vẫn ngại ngần với Nabokov. Tuy nhiên, các truyện ngắn của Nabokov có thể là những bài tập, những lối tắt, những cửa sổ, những chặng nước rút cho độc giả khả năng tiếp cận được các tiểu thuyết lớn của ông. Được viết suốt quãng thời gian gần nửa thế kỷ, chúng cũng là các cột mốc trong đời nhà văn, các kỷ niệm trong sự nghiệp vĩ đại của ông, các thử nghiệm sáng tạo văn chương mà sau này đôi khi được ông dùng lại trong tiểu thuyết của mình. Rất nhiều học giả cho rằng qua các truyện ngắn có thể thấy được sự phát triển cả về con người và nghệ thuật của Vladimir Nabokov theo thời gian.

Mặc khác, phần lớn truyện ngắn của Nabokov cũng là các kiệt tác được văn giới quốc tế yêu thích, chẳng hạn Dấu hiệu và Biểu hiệu, Chị em nhà Vane, Cẩm nang du ngoạn Berlin, Cơn giông, Mối tình đầu, Lễ Giáng sinh, Một truyện đồng thoại. Và Dấu hiệu và Biểu hiệu còn được đánh giá là truyện ngắn Anh ngữ hay nhất lịch sử. Chắc chắn nếu được dịch thật tốt qua tiếng Việt, chúng sẽ là các tác phẩm rất giá trị, sẽ là tư liệu cho công việc nghiên cứu văn chương đỉnh cao và sẽ đóng góp rất nhiều cho kho tàng văn học dịch tại VN.

Theo lời dịch giả Thiên Lương, thì mặc dù anh đã có kinh nghiệm qua nhiều năm nghiên cứu và dịch Lolita, song việc dịch truyện ngắn Nabokov không hề dễ hơn so với các tiểu thuyết lớn của ông, nếu như không muốn nói là còn khó hơn. Mặc dù được viết ngắn gọn, nhưng chính sự ngắn gọn ấy khiến cho các tác phẩm rất cô đọng, rất bất ngờ và được nhà văn xử lý rất kỹ. Điểm đặc biệt nữa trong sự nghiệp Nabokov là nhà văn sáng tác bằng cả hai ngôn ngữ Anh và Nga, khiến cho các dịch giả của ông buộc phải dịch được từ cả hai ngôn ngữ nếu không muốn phải dịch qua ngôn ngữ trung gian và làm mất đi vẻ đẹp nguyên bản. Dẫu sao thì một bản dịch văn chương từ ngôn ngữ thứ ba vẫn luôn bị đánh giá thấp trong con mắt của các học giả.


Tâm hồn Nga trong trái tim một nhà văn Mỹ

Những dòng cuối truyện ngắn Lá thư đến nước Nga có thể coi như những phút giây yếu lòng hiếm hoi mà Nabokov mở cho ta thấy loáng thoáng tầng ngầm tâm hồn ông:

Các thế kỷ sẽ trôi qua,
học sinh sẽ chán ngấy 
lịch sử những chấn động của chúng ta,
tất cả sẽ qua đi, tất cả sẽ qua đi, 
song 
hạnh phúc của tôi, 
bạn yêu ơi, 
hạnh phúc của tôi sẽ còn mãi,
trong ánh đèn đường ẩm ướt, 
trong chỗ ngoặt cẩn thận 
của cái cầu thang đá 
dốc xuống con kênh nước đen, 
trong nụ cười một đôi khiêu vũ, 
trong mọi thứ 
mà Chúa 
hào phóng bao bọc 
quanh sự cô đơn của con người.

Phải sống hơn nửa thế kỷ xa quê hương từ tuổi đôi mươi, song Nabokov không bao giờ sở hữu ngôi nhà nào ở nước ngoài, mặc dù thành công của Lolita đã mang lại cho ông cả một gia tài lớn. Dường như tâm hồn ông vẫn vương vấn đâu đó bên sông Neva và các con kênh của thành phố Saint Petersburg thần thánh. Dẫu có viết bằng tiếng Anh, thì chất Nga vẫn quyện vào từng sợi xơ giấy sách ông. Và có lẽ sự đa văn hóa trong tâm hồn một ông hoàng lưu vong cũng phần nào khiến cho văn chương Nabokov luôn làm mê hoặc lòng người, dẫu ông đã từ giã cõi này gần bốn mươi năm về trước.

Mỹ nhân Nga mới chỉ là quyển 1 trong 4 quyển tổng tập truyện ngắn Nabokov. Theo dự tính của Zenbook và dịch giả Thiên Lương, thì toàn bộ tập sách này sẽ hoàn thành vào năm 2019, nhân dịp kỷ niệm 120 năm ngày sinh nhà văn. Tuy nhiên, dẫu khá dày, với gần 1.500 trang tiếng Việt, nhưng bộ sách này mới chỉ là một phần nhỏ trong di sản vĩ đại của Nabokov, và chắc chắn cần rất nhiều nỗ lực nữa của các dịch giả, các công ty sách, các nhà xuất bản và các nhà nghiên cứu để các kiệt tác khác của ông đến được với độc giả VN.

Bạch Dương

Bài đăng trên báo Thanh Niên.

30 September 2016

Sách 'Mỹ nhân Nga' giới thiệu 17 truyện ngắn của Nabokov

Tập truyện ngắn của cha đẻ tiểu thuyết "Lolita" - nói về nỗi đau thầm kín của một ông hoàng lưu vong - vừa ra mắt ở Việt Nam.



Quyển một của bộ tổng tập truyện ngắn Nabokov vừa được Nhà xuất bản Văn học và Zenbook phát hành tại Việt Nam. Quyển này mang tên Mỹ nhân Nga gồm 17 truyện ngắn trong tổng số 68 truyện Nabokov từng sáng tác. Dịch giả Thiên Lương là người chuyển ngữ các truyện ngắn từ bản gốc tiếng Anh và tiếng Nga.

Bìa cuốn Mỹ nhân Nga

Vladimir Nabokov có phong cách viết hoa mỹ, uyên bác, phức tạp và chứa đựng vô vàn "ngón" chơi chữ, bẫy ngôn từ. Cách xếp đặt tác phẩm của ông được nhận xét đẹp hoàn hảo như cánh bướm, lại trí tuệ như bàn cờ vua luôn mê hoặc, cuốn hút người đọc. Tuy vậy, sự cầu kỳ trong văn phong của ông khiến cho nhiều người có chút ngại ngần khi tiếp cận các tác phẩm của Nabokov.

Ở đại văn hào này tích hợp nét đa văn hóa trong một con người gốc quý tộc Nga. Ông trưởng thành với đủ nghề ở châu Âu, rồi làm giáo sư văn chương ở Mỹ. Những điều này làm cho văn của ông tải được không chỉ sự vĩ đại, khoáng đạt, chất thôn dã và vẻ đẹp tâm hồn Nga mà cả tinh thần tự do, bình đẳng, bác ái của châu Âu, Mỹ.

Những yếu tố trên gây không ít khó khăn cho việc dịch sách của Nabokov. Người dịch Mỹ nhân Nga giữ quan điểm bản dịch chỉ có giá trị khi được dịch từ ngôn ngữ gốc. Do Nabokov sáng tác bằng cả tiếng Anh và tiếng Nga, 68 truyện ngắn của ông có một lịch sử xuất bản khá phức tạp. Chúng được đăng rải rác suốt nửa thế kỷ trên các tờ báo Nga và Mỹ. Sau này, chúng được con trai nhà văn gom lại và in trong một tổng tập với tên Collected Stories (Tổng tập truyện ngắn).

"Dẫu sao chăng nữa, công nghệ hiện đại ở một thế giới phẳng hơn cũng làm cho việc dịch thuật trở nên thuận lợi hơn, cho dịch giả cơ hội tra cứu sâu hơn, nhanh hơn và rộng hơn, nhờ vậy mà các tác giả khó dịch như Nabokov sẽ có nhiều cơ hội đến được với độc giả Việt Nam", dịch giả Thiên Lương nói.

Dù là tác giả được đánh giá rất cao trên thế giới, thậm chí được xem như nhà văn của các nhà văn, Nabokov có vị trí khá khiêm tốn ở thư viện văn học dịch Việt Nam. Gần 40 năm từ khi nhà văn qua đời tại Thụy Sĩ, chỉ một phần rất nhỏ thuộc di sản văn chương của ông được giới thiệu đến độc giả Việt Nam. Trong đó, chỉ có hai cuốn Lolita và Tiếng cười trong bóng tối được dịch từ nguyên tác và gây tiếng vang trong giới đọc sách.

Bộ tổng tập truyện ngắn của nhà văn Nabokov được chia làm 4 quyển, đều do dịch giả Thiên Lương chuyển ngữ. Dự kiến, quyển cuối cùng được dịch xong vào năm 2019 - năm kỷ niệm 120 năm ngày sinh Nabokov.

Hoàng Nam

29 September 2016

'Quái vật' Nabokov trở lại Việt Nam

"Anh ta phát hiện ra một thế giới mới, và vì đó chúng ta phải biết ơn anh ta. Một con quái vật, nhưng là một người viết tuyệt vời. Có lẽ đây là nhà văn khéo léo nhất trong vương quốc bao la của văn học Nga. Anh ta là chú hề đầu đỏ trong rạp xiếc. Nhưng tôi có cái tật yêu mến các tài năng, dù là từ những chú hề”, Ivan Bunin không tiếc lời ca ngợi đồng nghiệp trẻ Nabokov.



Các nhà văn thường không có thói quen khen ngợi các đồng nghiệp của mình. Vậy mà Ivan Bunin, nhà văn người Nga đầu tiên giành giải Nobel Văn chương, tác giả tập truyện ngắn kinh điển đã được dịch sang tiếng Việt Những lối đi dưới hàng cây tăm tối, không ít lần phải nhắc tới tên Nabokov.

Hậu thế có thể thông cảm cho Bunin bởi không ai muốn nhường lại vị trí vinh quang của mình và chênh lệch 30 tuổi mang tới nhiều khác biệt về quan điểm nghệ thuật. Các truyện ngắn của Nabokov đơn giản là những “ân phước thẩm mỹ” mà ông ban tặng cho người yêu văn chương.

Bìa cuốn sách "Mỹ nhân Nga" do họa sĩ Trương Tiến Trà vẽ
Kể cả những người đã “nằm lòng” tác phẩm nổi tiếng Lolita của Nabokov, khi đọc tập truyện ngắn Mỹ nhân Nga, bạn đọc Việt Nam có thể sẽ vẫn cảm thấy “khó nuốt”. Bởi đây là địa hạt để nhà văn vĩ đại thỏa sức tung ra những thử nghiệm của mình.

Giống như loại rượu hảo hạng âm ỉ rồi bùng nổ, các truyện ngắn của Nabokov trúc trắc với những liên tưởng đôi khi khá xa vời khiến người đọc mất nhiều thời gian lần theo các manh mối, nhưng bù lại, phía cuối luôn là những kho báu tuyệt vời.

Mỹ nhân Nga gồm 17 truyện ngắn, mỗi truyện là một không gian riêng, một cuộc chơi nghệ thuật với nhiều cái bẫy giăng ra cho người đọc. Đây cũng chỉ là quyển đầu trong bốn quyển Tổng tập truyện ngắn của Vladimir Nabokov, dự kiến hoàn thành trong vòng ba năm và đã được phát hành tại Việt Nam.

Nguyên Trang
Thể thao & Văn hóa

8 January 2015

Dịch giả Thiên Lương: Độc giả dung túng, dịch thuật tụt hậu

(Thethaovanhoa.vn) - Tại sao một nhà văn nghe nói vĩ đại mà lại viết ngô nghê đến thế? Tại sao một kiệt tác được hàng chục triệu người đọc mà lại sai lung tung? - đó là những câu hỏi độc giả có quyền đặt ra khi đọc một bản dịch kiệt tác không đạt.

Năm 2013, với bản dịch độc lập Lolita (không bản quyền, không cộng tác với một đơn vị xuất bản nào) chỉ vì không đồng tình với bản dịch có sẵn, Thiên Lương gây tò mò trên văn đàn. Trong suốt một năm qua, dịch giả này vẫn tiếp tục theo đuổi công việc phản biện các lỗi dịch thuật trong những bản dịch tiếng Việt của một số kiệt tác văn chương thế giới. Thiên Lương từng học ngành Điều khiển học tại Nga, thông thạo tiếng Anh và tiếng Nga.
* Dựa theo những bản dịch cụ thể đã đọc và so sánh, anh nhận xét thế nào về chất lượng dịch thuật các kiệt tác thế giới khi được đưa đến Việt Nam?
- Tôi thấy rất ít bản dịch ở Việt Nam chạm đến được cái đẹp của nguyên bản. Tuy nhiên, để đánh giá nghiêm túc một bản dịch thì chỉ có một cách duy nhất là đối chiếu chúng với bản gốc, và tôi thật sự thất vọng với bản dịch Lolita của Dương Tường do nó quá khác biệt so với nguyên bản tiếng Anh của Vladimir Nabokov. Lolita là tác phẩm đứng đầu trong hàng loạt bình chọn tiểu thuyết hay nhất của nhân loại, và thật đáng tiếc nếu nó không được dịch thật tốt qua tiếng Việt.
Các bản dịch khác mà tôi có đối chiếu cũng sai lệch rất nhiều, có thể nói là khác biệt ở mức khó chấp nhận.




Bìa bản dịch Lolita của Thiên Lương do họa sĩ Lê Thiết Cương thiết kế

* Các bản dịch như vậy có tác động ra sao đến tiếp nhận và trình độ của độc giả Việt Nam về lâu dài?
- Các bản dịch kém tác động xấu đến độc giả. Có thể độc giả sẽ nghĩ, tại sao một nhà văn nghe nói là vĩ đại đến thế mà lại viết rất bình thường, thậm chí ngô nghê như thế này, tại sao một kiệt tác được hàng chục triệu người đọc, mà lại bình thường, thậm chí sai lung tung thế này. Rồi họ sẽ mất dần thói quen đọc các bản dịch, và tác hại ấy rất lâu dài. Nếu bản dịch sai thuộc về các lĩnh vực như y tế, giáo dục, kinh tế, chính trị, thì tác hại còn khủng khiếp hơn nữa.
Đừng đánh giá thấp các lỗi dịch, đừng nghĩ rằng dịch sai đôi chút cũng không sao, miễn là hay. Có những lỗi dịch làm thay đổi toàn bộ tác phẩm, làm người đọc hiểu sai hoàn toàn. Có những lỗi dịch làm độc giả hoang mang, không biết tác giả là loại nhà văn nào mà viết kém thế. Mặc dù có thể cho bạn thấy hàng ngàn ví dụ như vậy, nhưng trong khuôn khổ của một bài phỏng vấn, tôi sẽ đưa ra một lỗi cực kỳ dễ hiểu với hầu hết bạn đọc có biết tiếng Anh sơ cấp, nhưng lại sai nghiêm trọng. Nó ở trang 261, bản dịch Lolita của Nhã Nam: “Miss Pratt nói, khua hai bàn tay lốm đốm vết men gan để minh họa”, và “hai bàn tay lốm đốm vết men gan” này, theo Nabokov viết bằng tiếng Anh, là liver-spotted hands, nghĩa là bàn tay của người già bị lốm đốm vết đồi mồi mà thôi. Kiểu dịch này chắc hẳn làm cho độc giả hoài nghi vào trình độ của một nhà văn thiên tài như Vladimir Nabokov.
* Dịch giả Đoàn Tử Huyến nói: “Hiện nay, yêu cầu về chất lượng dịch văn học không còn như cách đây mấy chục năm nên dịch giả cũng không thể dịch giống như trước”. Anh nghĩ sao?
- Tôi đồng ý. Ngày xưa, rất ít người có khả năng có được bản gốc, và lại càng hiếm ai đọc nổi bản gốc các tác phẩm văn chương nước ngoài, cho nên dịch giả dịch sao cũng được. Độc giả ngày nay đã khác.
* Thay đổi đó nói lên điều gì về sự khác biệt giữa các thế hệ dịch giả?
- Dịch giả ngày nay có người bạn trung thành và người thầy vĩ đại là Internet, nên họ có cơ hội để dịch tốt hơn rất nhiều so với các dịch giả thế hệ trước. Ngoài ra, chúng ta đang có hàng chục ngàn bạn trẻ sống và học tập ở nước ngoài, họ giỏi ngoại ngữ hơn rất nhiều dịch giả tự học. Ngày nay, những kiến thức tích lũy được sau năm tháng đã không còn ý nghĩa gì nhiều, quan trọng là năng lực nhận thức mối liên hệ tiềm ẩn giữa các sự vật hiện tượng (theo Vaclav Havel). Kiến thức nằm khắp nơi trên Internet, vấn đề là bạn có khả năng “đọc” được nó hay không.
* Có 2 quan điểm đối lập về dịch thuật: có người yêu cầu rất chặt chẽ về độ chính xác so với bản gốc; có người cho rằng chỉ cần giữ được “cái hồn” hay “cái thần” của tác giả tác phẩm, đúng sai có thể châm chước. Quan điểm của anh ra sao?
- Tôi nghĩ trên đời này chẳng ai dám nói là mình hiểu cái thần, cái hồn của các vĩ nhân, và cũng không có ai có tư cách nói như vậy. Và tôi cho rằng các tác giả cũng sẽ rất phẫn nộ (nếu họ còn có thể phẫn nộ) khi nghe thấy một ông dịch giả nào đó tuyên bố rằng bản dịch của ông ta tuy sai lung tung nhưng nắm được “cái hồn”, “cái thần” của tác giả! Nabokov từng phản đối kịch liệt quan điểm dịch méo mó bịa đặt kiểu đó.
Đừng coi thường độc giả, và đừng ngụy biện, đánh tráo một thứ có thể cân đong đo đếm, có thể định lượng là “dịch đúng”, qua một thứ chỉ có thể định tính, rất mông lung, là “dịch hay”. Quan điểm “dịch sai cũng được” ấy nếu còn được độc giả dung túng thì sẽ còn kéo dịch thuật Việt Nam tụt hậu nhiều năm. Tôi thấy đã đến lúc Việt Nam cần áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc tế vào công việc dịch thuật. Phải xác định rõ tiêu chuẩn với bản dịch, và phải minh bạch các tiêu chuẩn về lỗi cơ học, tức là sai kiểu “đen” dịch thành “trắng”. Số lỗi vượt quá tiêu chuẩn là nhà sách phải thu hồi, chứ không thể để tình trạng dịch ẩu như thế này kéo dài mãi. Theo tôi, tối đa số lỗi nên là 0,5%, nghĩa là 200 chữ được sai 1. Và trong giai đoạn hỗn loạn này, có thể các cơ quan quản lý nhà nước phải can thiệp sâu hơn vào thị trường sách dịch.



Việt Nam đã dịch 50% kiệt tác?
Theo Modern Library thì 10 tiểu thuyết vĩ đại nhất thế kỷ 20 là:
Ulysses - James Joyce
The Great Gatsby (Gatsby vĩ đại) - F.Scott Fitzgerald
A Portrait Of The Artist As A Young Man (Chân dung một chàng trai trẻ) - James Joyce
Lolita (Lolita) - Vladimir Nabokov
Brave New World - Aldous Huxley
The Sound And The Fury (Âm thanh và cuồng nộ) - William Faulkner
Catch-22 - Joseph Heller
Darkness At Noon - Arthur Koestler
Sons And Lovers - D.H.Lawrence
The Grapes Of Wrath (Chùm nho uất hận) - John Steinbeck.
Danh sách của Modern Library (thuộc NXB Random House, Mỹ) bị cho là quá “thân Mỹ”, đúng hơn là thiên về Bắc Mỹ và châu Âu. Trong ngoặc đơn là tên bản dịch tiếng Việt phổ biến, vậy là Việt Nam đã dịch một nửa số kiệt tác, có cuốn dịch đến 2-3 lần, nhưng nhiều quyển chất lượng lại rất có vấn đề.


Mi Ly (thực hiện)

Thể thao & Văn hóa Cuối tuần