Showing posts with label Dịch. Show all posts
Showing posts with label Dịch. Show all posts

9 January 2020

Lô-gích mềm trong một câu văn Lolita



Mặc dù ngôn ngữ, trên phương diện nào đó, là một dạng toán, nhưng thực tế thì ngôn ngữ tập trung vào cảm xúc nhiều hơn là tính lô-gích và sự cô đọng của toán học.

Một ví dụ khá thú vị mà thầy hay nghĩ lại là một câu văn cực ngắn và cực đơn giản trong Lolita, nhưng tương đối khó dịch, thậm chí là rất khó dịch vì nhiều người đã đụng vào và đều làm sai:

"His father and two grandfathers had sold wine, jewels and silk, respectively."

(His) ở ngữ cảnh này là nói về father của nhân vật chính (Humbert). Như vậy câu văn siêu đơn giản, không cần tra từ điển, google dịch ngon lành. Tuy nhiên nó không hoàn toàn đơn giản như mới nhìn. Với ai ngại tra từ điển thì thầy nói luôn respectively được dùng như một từ rất toán học, có ý nói là các đối tượng trong mệnh đề sẽ được phân chia tương ứng. Ví dụ bảo A và B bằng 5 và 6 respectively thì nghĩa là A=5, B=6.

Cách dịch đơn giản nhất, và phổ biến nhất là:

"Ông tôi bán rượu và một cụ nội tôi bán đá quý, một cụ nội tôi bán lụa."

Đó là cách triển khai phương trình của câu ra theo dạng toán. Mặc dù có chút sai sót và lủng củng nhưng về căn bản là đúng với nội dung mà câu văn muốn chuyển tải. Nó cũng như một dạng triển khai (A+B)^2 thành A^2+B^2+2AB.

Nhưng văn chương không phải toán học. Khi Nabokov viết câu văn đó, dĩ nhiên ông biết tiếng Anh có các từ cần thiết để viết như kiểu dịch trên, nhưng ông đã không viết thế. Tại sao?

Vì mục đích câu văn này còn để nói lên tính cách và hoàn cảnh của Humbert: Là một người lưu vong, dân châu Âu qua Mỹ sống, nên với y thì quá khứ là cái gì đó khá xa lạ, mù mờ, thậm chí là một thứ không muốn nhắc đến.

Nên với cách viết này, Nabokov muốn cho nhân vật của mình kể về quá khứ và gia đình như một chuyện gì đó miễn cưỡng, nói cho xong, chẳng quan trọng cho lắm. Các đôi tượng trong câu văn đều không liên quan nhiều đến nhân vật chính, và ngay cả cái cách dùng từ respectively rất tay chơi ở cuối câu, cũng thể hiện sự thờ ơ của nhân vật chính: Đại khái là vậy, tôi cũng không nhớ rõ lắm, và cũng chẳng quan trọng cho lắm.

Sợi dây duy nhất níu Humbert lại với quá khứ châu Âu là người cha mà thôi, còn trước đó thì không mấy liên quan, nên các ông và cụ đó chỉ là những người liên quan qua cha Humbert. Đặt nhân vật chính của tác phẩm vào vị trí trung tâm câu văn thì sẽ làm sai ý của nó.

Và nếu dịch theo kiểu toán như phương án thầy đưa ở trên, thì các đối tượng trong câu lại rất gần gũi với Humbert và hiển nhiên sẽ không cho độc giả cái cảm giác mà Nabokov muốn tạo ra trong tâm trí họ.

Mà đó mới là một câu văn gần như là dễ nhất trong Lolita!

27 December 2019

Những câu mở đầu tuyệt tác



Các kiệt tác văn chương thường được mở đầu bằng một vài câu văn cực hay, chúng dường như được nhà văn sửa nhiều lần để chứa đựng được hết mọi tinh túy của tác phẩm, hoặc không thì cũng là một quan điểm sống nổi bật nào đó của chính ông ấy.

Tôi từng thích nhất ba đoạn mở đầu sau đây.

Một là trong Lolita của Nabokov: "Lolita, ánh sáng đời tôi, lửa dục lòng tôi. Lầm lỗi của tôi, linh hồn của tôi."

Hai là trong Anna Karenina của Lev Tolstoy: "Mọi gia đình hạnh phúc đều giống nhau, mỗi gia đình bất hạnh lại bất hạnh theo kiểu riêng."

Ba là trong Gatsby Vĩ đại của F. Scott Fitzgerald: "Vào những năm tôi còn trẻ hơn và dễ bị tổn thương hơn, cha tôi đã cho tôi mấy lời khuyên mà tôi cứ lật đi lật lại trong tâm trí mãi từ hồi đó.

'Hễ khi nào con cảm thấy thích chỉ trích bất cứ ai,' ông bảo tôi, 'hãy nhớ là không phải ai trên đời này cũng có những lợi thế mà con có.'"

Nhưng hôm nay đọc được câu mở đầu cũng ấn tượng chẳng kém gì ba câu trên, trong cuốn Speak, Memory của Vladimir Nabokov.

"Chiếc nôi chao trên vực thẳm, và lương tri bảo ta rằng sự tồn tại của ta chỉ là một kẽ sáng hẹp giữa hai cõi hư vô bất tận của bóng tối."

Nhiều khi chỉ vì một cái lúm đồng tiền mà người ta cưới cả một người đàn bà làm vợ, phải chăng ta cũng nên dịch cả một cuốn sách chỉ vì một câu mở đầu tuyệt hay?

17 December 2019

‘Mashenka’ của Nabokov: Tiểu thuyết đầu tay khởi nguồn cho những cay đắng



‘Mashenka’ của Nabokov: Tiểu thuyết đầu tay khởi nguồn cho những cay đắng
Mashenka ở bảo tàng Nabokov tại St. Petersburg

Bài trên Thể Thao Văn Hóa

Sau khi giới thiệu nhiều tác phẩm lớn về sau của Vladimir Nabokov, dịch giả Thiên Lương mới đây đã dịch và xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tiên của đại văn hào người Nga, Mashenka.

“Mashenka là tiểu thuyết đầu tay của tôi. Tôi bắt đầu làm việc với nó ở Berlin, ngay sau khi lập gia đình vào mùa xuân năm 1925”, Nabokov nói viết trong lời tựa cho ấn bản ở Mỹ.

Nói tới tiểu thuyết đầu tay, ít nhiều sẽ có cảm giác về sự ngây ngô, non tay. Điều này không hẳn sai, nhưng lại cũng chẳng hẳn là xấu. Đặc biệt với những nhà văn lớn, sẽ là điều thú vị dành cho độc giả khi được gặp lại họ vào thời điểm các trải nghiệm đều non mới (như Những đêm trắng của Fyodor Dostoyevsky) và nhất là, thỉnh thoảng lại có những riêng tư được gài gắm.

Mặc dù sinh thời luôn phản bác chuyện gắn tác phẩm với kinh nghiệm đời thực của tác giả, tuy nhiên, trong tiểu thuyết đầu đời đặc biệt này, bản thân Nabokov thừa nhận đã vi phạm nguyên tắc của mình: “Thiên hướng ai cũng biết của người mới vào nghề trong việc xâm phạm sự riêng tư của chính mình, bằng cách tự giới thiệu mình, hoặc một thế nhân, vào tiểu thuyết đầu tay, ít nhờ vào sự hấp dẫn của chủ đề có sẵn hơn là vào sự khuây khỏa do thoát được khỏi chính mình trước khi vươn tới những điều tốt đẹp hơn”.

Cụ thể, sẽ có những tương đồng nhất định giữa các kỷ niệm của Nabokov với nhân vật Ganin, giữa nàng Mashenka với nàng Tamara của ông và ở cả những khung cảnh làng quê giữa thực và truyện. Hơn thế nữa, Mashenka có thể coi là khởi thủy cho các nhân vật nữ trong những kiệt tác sau này của Nabokov.

Cụ thể, trong bài phỏng vấn với tạp chí Vogue, ông đã ngầm thừa nhận “mối quan hệ, nếu có, giữa nữ nhân vật đầu tiên của tôi và Ada gần đây của tôi”. Tuy không nhắc tới Lolita, tuy nhiên, độc giả dễ dàng ướm Ganin và Mashenka với chút gì đó của Humbert và Annabel. Tất cả đều kết thúc trong cay đắng.

Chú thích ảnh
Mashenka là bản dịch thứ 8 của dịch giả Thiên Lương


Nhưng cần phải nói rằng, dù Mashenka có những yếu tố ngây thơ, có tình tiết riêng tư, nhưng nó phần nào giống như một dạng prequel (tiền truyện), tức là đứng ở vị trí một lão làng hiện tại để giải mã quá khứ, chứ không phải người chập chững lần đầu cầm bút sáng tác.

Thật vậy, chỉ qua vài trang đầu, người hâm mộ Nabokov dễ dàng nhận ra văn phong cũng như chủ đề quen thuộc sẽ được ông khai thác sâu về sau, trong hầu hết mọi tác phẩm. Đó là khả năng sử dụng tính từ chuẩn xác, cảm thức tha hương, tàn ác với nhân vật, thậm chí thói giễu nhại Freud và đặc biệt, là những cú đánh đột ngột. Trong khi độc giả đang thư thái lang thang ở một góc phố tĩnh lặng, đẹp đẽ thì Nabokov bỗng từ đâu kéo giật họ lại vào một ngõ hẻm, nơi những cảm xúc hổ thẹn đi bỗng bị lột trần.

Mashenka, do Thiên Lương dịch, dài 176 trang, vừa ra mắt vào hè này và hiện có thể mua rộng khắp tại các tiệm sách cũng như trên các trang mua bán trực tuyến.

Thư Vĩ

4 September 2018

Đừng đụng vào cây mùa lá rụng!?



Một trong các bài thơ Nga nổi tiếng nhất ở VN và có câu gần như đã trở thành một thành ngữ tiếng Việt, tiếc thay, lại là một bản dịch hết sức nhảm. 
Thực ra cũng có nhiều người học Nga và am hiểu ngôn ngữ này viết về sai lầm cơ bản của bài này rồi, nên quả nhân cũng không đi sâu vào làm gì. Đó là câu "Đừng đụng vào cây mùa lá rụng!" mà thực ra bản tiếng Nga có ý là "Cẩn thận, lá rụng!" 
Đại ý là ở Nga vào mùa thu sẽ có vài tuần tự dưng lá rụng sạch, và các tuần đó đi lại rất nguy hiểm do lá nó làm đường trơn dễ ngã, nên người ta mới treo các biển cảnh báo kiểu như "cẩn thận cứt chó", vậy thôi, chứ cây ở Nga to vật, có mà lấy xe tải húc vào nó mới rụng lá. Thiếu nữ mong manh đụng vào thì xi nhê gì? Với cả chả ai tự dưng đụng vào cây được, đường ở Nga rộng thênh thang có phải vỉa hè Hà Nội một mét vuông ba bà bán hàng rong đâu mà đụng vào cây? 
Dĩ nhiên dưới con mắt thi sỹ thì nó phải lãng mạn hơn, phỏng ạ. Nhưng cũng không thể nào mà đổi hẳn ý thơ được. 
Tuy nhiên, quả nhân cho là Bằng Việt chém thành "Đừng đụng vào cây mùa lá rụng" rất là lan quyên, nhưng thực ra lại hợp với tạng người Việt yếu đuối. Gái Nga chả thế đâu. 
Nhưng cái sai đó chưa phải quan trọng nhất, mà là linh hồn bài thơ nó khác hẳn. 
Đại ý là cô gái thực ra bị giai bỏ, chứ cũng chả chia tay chia chân gì. Nên cả bài thơ là một lời tự an ủi. 
"Ничего не нужно было,- значит, нечего терять."Em đã chẳng cần gì - nghĩa là cũng chả mất gì." Rất gái, kiểu hơi nuốt nước mắt một tí. Yêu thế mới là yêu chứ. Rất chí khí, không bánh bèo tí nào. 
"даже близким, даже милым, даже другом не назвать." Chẳng thân quen, yêu đương gì, đến bạn cũng không. Nói chung không hiểu thằng này dạng gì với mình. 
"Почему же мне тоскливо, что прощаемся навек, Невеселый, несчастливый, одинокий человек?" Sao chuỵ lại phải buồn vì vĩnh biệt một gã không vui, không sướng, cô đơn? (Như mài). Tất nhiên đó là dưới con mắt của cổ, chứ thằng kia nó có buồn chán cô đơn không thì ai mà biết được. Có khi cổ vừa lên tàu nó đã gọi gái về rồi. Nhưng đây là cái lòng gái nó thẩm du thành thế, dịch phải ra được ý thì mới là hay. 
"Я не все тебе сказала, но теперь уж не скажу." Chuỵ chưa kể hết cho mài các cái đâu, nhưng giờ thì thôi chả thèm nói nữa. 
Đó là các ý thơ căn bản nhất trong bài, để nói lên được là cô gái rất yêu người đàn ông đó, nhưng phải chia tay anh ấy mà không nói được về tình yêu của mình. Cô thấy xót xa vì phải để lại anh ta một mình với nỗi bất hạnh của mình, nhưng cũng không biết làm gì hơn, vì cảm thấy là người đó không muốn hoặc không yêu hoặc không thích cô ấy. 
Còn các câu thơ phụ khác như kiểu ..Я одна пойду к вокзалу, - Tôi một mình ra ga,... thì có thể tạo cho độc giả một liên tưởng là cô gái đến thăm người đàn ông đó và bây giờ lại phải ra đi, hoặc là cô ấy đi đâu đó xa cái thành phố ấy và chẳng biết bao giờ quay lại vì không được yêu. 
Tuy nhiên, thơ là thứ gần như bất khả dịch, nên viết như trên không có nghĩa là chê Bằng Việt, mà ý chỉ là: đừng bao giờ cho rằng một bản dịch xuôi tai là đúng, là có hồn. Đúng là nó có hồn, nhưng hồn Lào ấy, không phải hồn Nga! 
Листопад
Осенью в Москве на бульварах
вывешивают дощечки с надписью
“Осторожно, листопад!“
Осень, осень! Над Москвою
Журавли, туман и дым.
Златосумрачной листвою
Загораются сады.
И дощечки на бульварах
всем прохожим говорят,
одиночкам или парам:
“Осторожно, листопад!”
О, как сердцу одиноко
в переулочке чужом!
Вечер бродит мимо окон,
вздрагивая под дождем.
Для кого же здесь одна я,
кто мне дорог, кто мне рад?
Почему припоминаю:
“Осторожно, листопад”?
Ничего не нужно было,-
значит, нечего терять:
даже близким, даже милым,
даже другом не назвать.
Почему же мне тоскливо,
что прощаемся навек,
Невеселый, несчастливый,
одинокий человек?
Что усмешки, что небрежность?
Перетерпишь, переждешь...
Нет - всего страшнее нежность..
Я одна пойду к вокзалу,
на прощание, как дождь.
Темный ливень, теплый ливень
весь - сверкание и дрожь!
Будь веселым, будь счастливым
на прощание, как дождь.
...Я одна пойду к вокзалу,
провожатым откажу.
Я не все тебе сказала,
но теперь уж не скажу.
Переулок полон ночью,
а дощечки говорят
проходящим одиночкам:
“Осторожно, листопад”...

2 September 2018

Vẻ đẹp văn chương của Vladimir Nabokov

Vẻ đẹp Nga quá vãng qua nhãn quan tràn đầy lòng trắc ẩn, nuối tiếc của Nabokov. Khép sách lại, là một giọt nước mắt lăn xuống cho thân phận những người Nga tha hương

Tôi đã ngần ngại đọc "Mỹ nhân Nga" (Thiên Lương dịch, NXB Văn học ấn hành) bởi lẽ, hồi ức khi đọc "Lolita" (Dương Tường dịch, NXB Hội Nhà văn xuất bản 2015) trong tôi là khó nhằn và ám ảnh. Nabokov luôn kìm độc giả đọc chậm, đọc kỹ, nhẩn nha. Sách không dành cho người đọc vội, đọc lướt, cũng không dành cho ai đang mệt mỏi, trầm uất, vì có khi nó khiến người ta xuống tinh thần hơn. Sách dành cho ai thật cân bằng, tĩnh tại, vì đọc Nabokov vừa là để thưởng thức vừa là để luyện trí não vừa là để tìm kiếm cái đẹp của văn chương.
"Phù thủy ngôn từ"
Nabokov là nhà văn chú trọng đến ngôn ngữ miêu tả. Từ ngữ như khắc, như chạm, kiệm lời nhưng có hồn, như nhảy múa, ca hát, như gợi trước mắt chúng ta. Tôi thích nhất cách Nabokov miêu tả thiên nhiên, khung cảnh, không gian, cảnh vật,… Tôi đọc đi đọc lại những đoạn miêu tả mà mình nghĩ chỉ có cỡ Nabokov mới có thể viết được như đoạn tả buổi đêm trong "Lá thư đến nước Nga", đoạn này gợi tôi nhớ đến "Hai đứa trẻ" của Thạch Lam. Đoạn tả toa tàu trong truyện ngắn "Mối tình đầu" đẹp như cổ tích, đoạn tả buổi sáng ở biển trong truyện "Cuộc ẩu đả" chan hòa ánh nắng với "dòng nước tuôn như cái quạt bạc mềm dẻo từ ống cao su lấp lánh, lúc bay về phía mặt trời, lúc lại uyển chuyển sà xuống các bụi cây run rẩy"; "mây hè trôi thành đoàn hành hương bồng bềnh - những đám mây hình lạc đà, những đám mây hình túp lều. Mặt trời cố luồn qua giữa chúng, song chúng phủ các rìa sáng lòa lên nó, không trung tắt dần, rồi ánh hào quang lại chín mọng",… rất nhiều đoạn miêu tả khiến ta phải đọc chậm, trầm ngâm, tưởng tượng trước mặt mình khung cảnh ấy. Nabokov là nhà văn được mệnh danh "phù thủy ngôn từ", với quan niệm "chữ được ban cho quyền lực cao cả để sáng tạo…" (Hành khách, tr.119).
Vẻ đẹp của lòng trắc ẩn
Khi đọc "Lolita", nhiều người phân vân về tính nhân văn của tiểu thuyết, họ đặt câu hỏi tại sao Nabokov lại miêu tả kỹ lưỡng chân dung một nhân vật bệnh hoạn đến thế, có khá nhiều độc giả đã dị ứng và bài xích Nabokov. Nhưng đến tập truyện ngắn này, 100% độc giả sẽ thấy Nabokov rất nhân văn. Ông rất hay miêu tả những con người vô danh, lầm than, cùng quẫn như chàng làm thuê, cô gái điếm, những người bị tật nguyền, khiếm khuyết thể xác hoặc tinh thần,… Nabokov dành cảm tình đặc biệt cho người già. Hơn một nửa số truyện trong tập này kể về những người Nga lưu vong già nua sống âm thầm ở châu Âu một cách mòn mỏi, lê lết, hoài nhớ về cố quốc trong những chuỗi ngày chán chường, buồn bã, vô vị. Cách miêu tả những chi tiết vặt vãnh để minh họa cho chủ đề "con người nhỏ bé" đó của Nabokov trong trường hợp này đạt hiệu quả đặc biệt, "chẳng lẽ không phải mỗi nhà văn đều chính là kẻ vẫn bận tâm với những thứ vặt vãnh đó sao?"(Hành khách, tr.113). Thủ pháp "miêu tả các vật thể bình thường"(Cẩm nang du ngoạn Berlin, tr.65) của Nabokov nổi bật như một đặc trưng nghệ thuật của ông, ví dụ ông có thể tả cái tất chân, tả vết tàn nhang, cái mũi nhọn, cái máy trợ thính,… đều mang tính cụ thể để khái quát cá tính nhân vật.
Vẻ đẹp văn chương của Vladimir Nabokov - Ảnh 1.
Tập truyện "A Russian Beauty" (Vẻ đẹp Nga)Ảnh: TRẦN LÊ
Vẻ đẹp nhân hậu và trắc ẩn của Nabokov mềm mại đến nỗi khiến độc giả yêu thương luôn các nhân vật của ông, sợ chẳng may kết thúc làm đau nhân vật của mình. Ví dụ như câu chuyện về kết thúc cuộc đời của cô gái xinh đẹp quý tộc Nga (Mỹ nhân Nga), cách báo tin về cái chết của cậu con trai cho người mẹ (Báo tin), số phận của chàng trai bị thiểu năng (Dấu hiệu và biểu hiện), cuộc đời lang thang của hai anh em song sinh dính liền (Cảnh đời một quái vật kép),…Nabokov thường chọn kết thúc lửng lơ, nửa chừng theo cách "đem lại ấn tượng bất ngờ bằng cách kết thúc tự nhiên nhất" (Hành khách, tr.119). Lạ thay, kết thúc này không làm độc giả hụt hẫng mà thở phào vì đỡ chứng kiến sự đau đớn có thể tưởng tượng nếu kết thúc đi đến tận cùng.
Nuối tiếc quá vãng
Nabokov tự nhận mình là "nhà văn tha hương" (Lá thư đến nước Nga, tr.42). Gần hết 17 truyện ngắn trong tập truyện đều bàng bạc dấu vết Nga. Hồi ức Nga đậm đặc trong từng chữ, câu, suy nghĩ của nhân vật: thuốc lá Nga, quý tộc Nga, mỹ nhân Nga, các ngày lễ kiểu Nga, thậm chí đến cả cách cắt tóc của thợ cạo Nga,… Sinh ra ở Petersburg, Nabokov thường xuyên nhắc đến thành phố tuyệt đẹp này với những ký ức không thể nào quên như đại lộ Nevski chẳng hạn. Không mang màu sắc hận thù, dè bỉu, chỉ có nỗi nhớ quay quắt về nước Nga như truyện "Ma Cây", "Lá thư đến nước Nga", "Mối tình đầu", "Mưa Phục sinh", "Mỹ nhân Nga", "Dao cạo",…
Lấy tựa truyện "A Russian Beauty" (Vẻ đẹp Nga) làm tựa chung cho cả tập truyện, mặc dù truyện được dịch là "Mỹ nhân Nga" vì nhân vật chính là một cô gái quý tộc Nga xinh đẹp, tôi có cảm giác dịch giả có lẽ cũng muốn nói đến chủ đề chung của tập truyện này: Vẻ đẹp Nga quá vãng qua nhãn quan tràn đầy lòng trắc ẩn, nuối tiếc của Nabokov. Khép sách lại, là một giọt nước mắt lăn xuống cho thân phận những người Nga tha hương. 
TRẦN LÊ HOA TRANH

https://nld.com.vn/van-nghe/ve-dep-van-chuong-cua-vladimir-nabokov-20180604211319688.htm

4 December 2017

Tự sự về một kẻ đánh mất quê hương

HẢI ĐĂNG

Bài đăng trên báo Thời Nay, một ấn phẩm của Nhân Dân



Không bao giờ trở về nước Nga kể từ năm 1918, “tư cố hương” vì vậy là chủ đề lớn trong văn nghiệp của Vladimir Nabokov (1899 - 1977), mà minh chứng sống động nhất là “Pnin” - cuốn tiểu thuyết đem lại cho tác giả đề cử giải thưởng danh giá National Book Award năm 1958.



Nội dung của “Pnin” như nhan đề giản đơn của sách tường thuật quãng đời trầm lặng của vị GS gốc Nga Timofey Pnin. Đến Mỹ theo lời khuyên từ đồng nghiệp cũ, “giấc mơ Mỹ” của Pnin sớm kết thúc khi chỉ được phân công dạy tiếng Nga tại trường đại học địa phương Waindell. Khác biệt về văn hóa cùng sự sùng bái nghệ thuật Nga biến mọi hành động của Pnin trở thành một chuỗi hình ảnh kỳ quặc trong mắt các giảng viên và sinh viên đại học.

Mang nhiều nét tương đồng với cuộc đời V.Nabokov, hình tượng Pnin là một bức tự họa trào phúng của tác gia kiêm giáo sư văn chương thiên tài và cực đoan này. Như tiểu sử nhà văn, Pnin đã tham gia lực lượng “bạch vệ” phản cách mạng từ năm 18 tuổi. Khi nội chiến Nga kết thúc, Pnin đã lưu vong qua Đức, Pháp và cuối cùng đặt chân lên Mỹ. Nhưng không ở đâu mà Pnin được toại nguyện với việc ngợi ca ngôn ngữ Nga, được bình phẩm về những áng văn chương của Tolstoy hay chìm đắm trong miền thôn quê xứ bạch dương hoang vắng và bình yên. Tại Mỹ - “miền đất hứa”, người ta chỉ coi Pnin - như một “khách ở trọ” phiền nhiễu, xếp sau cả các giáo sư văn chương bất tài cùng những nhà nữ quyền nửa mùa. Bi kịch đến đỉnh điểm khi Pnin tình cờ xem được một bộ phim tài liệu Xô-viết “hết thảy là nghệ thuật thuần túy, những dịp hội hè đình đám, và niềm hân hoan trong các công việc tuy cực nhọc nhưng rất đáng tự hào”. Đôi mắt Pnin đã nhòa lệ, song thói ngoan cố vẫn khiến Pnin tự nhủ mình thật “kỳ quặc, lố bịch, nhục nhã”. Tác phẩm để mở kết thúc bằng chi tiết Pnin phải nghỉ việc dạy học tại Waindell.

Ẩn chứa cái nhìn và ngôn ngữ kể chuyện của một kẻ “thiếu quê hương” nhưng tiểu thuyết “Pnin” không sa vào những chủ đề phi chính trị của một vài nhà văn lưu vong như “người đương thời” Solzhenitsyn hay S. Rushdie sau này. Thay vào đó, bằng những hồi tưởng và vốn văn hóa uyên thâm của mình, V.Nabokov đã khéo léo phục dựng một đất nước Nga vĩ đại với nền nghệ thuật đáng khâm phục qua câu chuyện bi hài về GS Pnin “có đôi chân gầy guộc” cùng thứ “tiếng Anh trọ trẹ”.

Vốn là “gã hề trong rạp xiếc” văn chương với thú chơi chữ, phong cách giễu nhại hài hước đến cay nghiệt như nhận xét của I. Bunin, V.Nabokov đã “phù phép” những ngày tháng quạnh hiu của Pnin hóa thành tràng cười sảng khoái với nhiều độc giả. Nhưng sau tiếng cười ấy, người đọc phải rùng mình trước nỗi bất hạnh mà Pnin đang nếm trải chỉ vì sự bồng bột của tuổi trẻ, những nghịch cảnh do chiến tranh gây ra mà không ít tác phẩm văn học Xô-viết nổi tiếng như “Sông Đông êm đềm”, “Người thứ 41” từng lột tả thành công.

(Tiểu thuyết “Pnin”, Vladimir Nabokov, Thiên Lương dịch, NXB Văn học 2017).

2 December 2017

Dấu ấn của cảm thức lưu vong trong tiểu thuyết Nabokov

Mặc dù, "Lolita" là cuốn sách của Nabokov được độc giả biết đến nhiều nhất, nhưng "Pnin" đã tạo dựng danh tiếng cho ông với vai trò một nhà văn sử dụng ngôn ngữ Anh độc đáo.

Pnin là tiểu thuyết thứ 4 được viết bằng tiếng Anh của Nabokov. Từ khi bắt đầu xây dựng nhân vật Pnin, Nabokov đã có kế hoạch viết một loạt những câu chuyện về nhân vật này, để đăng trên tờ New Yorker, sau đó sẽ tập hợp lại thành một cuốn sách, nhằm đảm bảo thu nhập cho ông trong khi ông tìm cách liên hệ với các nhà xuất bản để in Lolita.

Khi Nabokov gửi bản thảo tiểu thuyết Pnin hoàn chỉnh cho vài nhà xuất bản của Mỹ vào mùa thu năm 1955, họ đã từ chối vì lý do là “quá ngắn”. Đến tháng 8/1956, Doubleday đã đồng ý xuất bản cuốn sách. Pnin chính thức có mặt trong các hiệu sách của nước Mỹ vào tháng 3 năm sau, và nhanh chóng nổi tiếng.

Tác phẩm tạo được cơn sốt trên đất Mỹ, biến Nabokov trở thành tác giả nổi tiếng. Ngay tuần thứ hai sau khi ra mắt, Pnin đã được tái bản và Nabokov được tạp chí Newsweek đánh giá là “một trong các nhà văn tinh tế nhất, hài hước nhất, cảm động nhất nước Mỹ ngày nay”. Pnin cũng được đề cử tranh giải National Book Award for Fiction năm 1958.

Tiểu thuyết Pnin của Nabokov với bản dịch Việt ngữ của Thiên Lương.


Pnin là câu chuyện về Timofey Pnin, một giáo sư lưu vong dạy tiếng Nga tại Waindell College ở New York. Tác  phẩm đã tái hiện lại một bức tranh hài hước nhưng đầy sầu muộn của tri thức Nga lưu vong, giữa cuộc sống đầy những phức tạp trên đất Mỹ hiện đại thực dụng.

Nabokov rời quê hương sau khi kết thúc những năm thiếu niên. Năm 1919, ông cùng gia đình đã tới được nước Anh và theo học tại Trinity College, Đại học Cambridge. Nabokov thành công trong việc hòa nhập với đời sống mới bằng thứ ngôn ngữ tiếng Anh hoàn hảo. Ông là một những câu chuyện thành công trong hàng ngũ những kẻ tha hương. Nabokov không chỉ sống như một nhà văn bằng ngôn ngữ mới, ông còn là tác giả nổi bật của nền văn học Mỹ hiện đại.

Tuy nhiên, trước khi Nabokov đạt được vinh quanh, bản thân ông cũng đã trải qua những bi kịch cá nhân cay đắng. Cha của ông đã bị một người Nga lưu vong khác giết. Anh trai ông, Sergei, cũng chịu sự khổ nhục và cái chết đau đớn tại một trại tập trung của Đức.

Bi kịch của gia đình cũng khiến mối tình của ông với Svetlana Siewert tan vỡ. Sau này, cuộc hôn nhân của ông với Véra Evseyevna Slonim cũng đem lại rất nhiều khốn khó cho gia đình bởi gốc gác Do Thái của bà.

Ngày 19/5/1940, Nabokov đến Mỹ không phải để tìm kiếm danh vọng và sự giàu có mà bởi sự tuyệt vọng cuối cùng để trốn thoát Đức Quốc xã, khi chúng bước chân vào Paris chỉ vài ngày sau đó.

Trước khi đến Mỹ, Nabokov đã trải qua hai thập kỷ sống lưu vong như một người đàn ông không quê hương ở Đức và Pháp. Ông, cũng giống như vô vàn những nhà văn lưu vong của thế kỷ 20 như Thomas Mann, Elias Canetti, Aleksandr Solzhenitsyn, Isaac Bashevis Singer, Czesław Miłosz và Joseph Brodsky… quá thấm thía những nỗi đau thương, nhung nhớ và mất mát của kẻ buộc phải rời bỏ quê hương, đã cùng nhau tạo nên những tác phẩm văn chương đầy day dứt về lớp người lưu vong này.

Giáo sư Pnin chính là một nhân vật khơi dậy sống động hình ảnh của một tri thức lưu vong. Nabokov đã biểu đạt sắc sảo những trải nghiệm của bản thân, đồng thời thâm nhập vào nội tâm kín đáo của nhân vật một cách đầy tinh tế, trìu mến, đã tạo nên một người đàn ông loay hoay hòa nhập với đời sống mới, khi tâm tư trĩu nặng những ưu sầu hoài nhớ về cố hương.

Như thường lệ, Nabokov thể hiện sự vượt trội của mình về chi tiết. Xuyên suốt cuốn tiểu thuyết, ông đặc biệt nhấn nhá với những khoảnh khắc xúc cảm bất chợt rung động của Pnin, đột ngột xen giữa những cảnh huống hài hước.

Như trong chương một của cuốn tiểu thuyết, sau những đoạn khiến khán giả bật cười vì sự “khờ khạo” của Pnin, trong cách ông đi nhầm tàu, cách ông phát âm tiếng Anh không rõ từ… chính là nhấn vào trạng thái cảm xúc của “Chút rờn rợn bắt nguồn từ cơn đau mới đây đang lôi cuốn sự chú ý mê hoặc của ông. Nó chỉ kéo dài vài nhịp tim”.

Cơn đau tim xuất hiện trong rất nhiều khoảnh khắc của cuộc đời Pnin. Liền sau đó là vô vàn những ảo ảnh của mất mát, chết chóc, chia lìa, buồn thảm xuất hiện trước mắt ông.

Chương một kết thúc ở đó, đầy nỗi buồn, và cũng chính là cánh cửa mở ra cho độc giả nhận diện về Pnin, một người đàn ông đầy những xúc cảm, suy tư và tử tế.

Ở những chương sau, hình thức câu chuyện vẫn diễn ra theo cách đó. Giữa những tình huống mắc kẹt của Pnin, Nabokov cho thấy sự thất bại của ông với cuộc sống ở Mỹ, bằng một chất văn chương nhiều nét châm biếm, hóm hỉnh nhưng cũng sâu thẳm nhiều cảm động.

Tâm hồn Pnin hoàn toàn khác biệt so với vẻ ngoài xấu xí, già nua, thất bại của ông. Tâm hồn Pnin là một tâm hồn đẹp đẽ, hoài vọng, lưu giữ những nét quyến rũ cố hữu của người Nga.

Cái cách ông đối xử với người vợ cũ, và cách ông chăm sóc Victor, con trai của vợ đã làm bật lên tính tử tế, ấm áp sâu xa của một tâm hồn đẹp. Hình ảnh Pnin rất ngốc khi nói tiếng Anh, nhưng lại trở nên sắc bén trong những tranh luận về văn chương Nga, ngôn ngữ Nga, về Lev Tolstoy hay Dostoyevsky….

Pnin sống ở Mỹ, nhưng lại đắm chìm trong một không gian nước Nga mộng mơ cũ kỹ. Nước Nga ấy cắm rễ sâu trong lòng ông, thường tấn công ông bằng nỗi nhớ quặn thắt, bằng lòng hoài nghi buốt nhói.

Pnin trên đất Mỹ cũng là hình ảnh một kẻ không nhà. Ông “lang thang” từ nhà trọ này tới nhà trọ kia. Với những phòng trọ đầy sách vở, ông vẫn cặm cụi học, đọc và dạy cái thứ tiếng đang ngày càng “hèn mọn”.

Cho đến chương cuối cùng, ông tìm được một ngôi nhà nhỏ, ở đó, ông bày biện nó giống như ngôi nhà trong giấc mơ của mình. Ngôi nhà nhỏ với những món đồ ấm áp mà ông từng khao khát có được từ những ngày còn ở quê nhà. Rốt cuộc, cuộc đời ông sau đó vẫn là phải không quê hương, không nhà ở.

Tiểu thuyết Pnin, cũng như hầu hết các tiểu thuyết của Nabokov đều ẩn giấu đầy những ẩn dụ, những lớp lang. Câu chuyện về một người đàn ông tha hương, hay là câu chuyện về một tâm hồn chỉ còn ký ức để trú ngụ, là sự cô đơn, lạc loài, hay chính là sự bất hạnh của thế hệ, trước những biến động của lịch sử. Tâm hồn sâu thẳm của con người vẫn là điều Nabokov cần mẫn khai mở.

Bối cảnh chính trong Pnin cũng là bối cảnh của biết bao nhiêu tri thức châu Âu khi đối diện với nền văn minh thực dụng của đất Mỹ, đã được nhìn nhận rõ trong môi trường đại học. Ở đó những người lưu vong hoài nhớ quá khứ của mình một cách bệnh hoạn, đầy cao quý nhưng đầy mộng du.

Môi trường đại học giống như một xã hội thu nhỏ, trong đó hành vi xã hội và chính trị có thể được quan sát rõ ràng trong mối tương tác của các nhân vật. Từ đó tạo ra những tình huống hài hước, đồng thời làm bật lên tâm tư yếu đuối của mỗi con người, trong xúc cảm lưu vong.

Nabokov là một thiên tài văn chương, vẫn luôn khiến độc giả thán phục bởi cách ông làm tỏa sáng những điều “nhỏ bé”. Pnin được viết quanh quẩn xung quanh một người đàn ông tầm thường là thế, nhưng lại là một cuốn tiểu thuyết khơi dậy lòng cảm động sâu sắc. Chính tình cảm là thứ đã khiến người đàn ông bình thường Pnin tỏa sáng. Tình cảm là thứ khiến độc giả say đắm tiểu thuyết Pnin.

Một người đàn ông tầm thường, có thể lẫn với vô vàn người trong đám đông, nhưng Nabokov đã lưu giữ Pnin lại, thâm nhập sâu vào thế giới tâm hồn ông, và tạo nên một kiệt tác văn chương buồn bã nhưng đẹp đẽ và dịu dàng về một con người.

Pnin là tác phẩm có vị trí quan trọng trong văn nghiệp của Nabokov.


Tiểu thuyết Pnin có tiền thân là một truyện ngắn, được sáng tác sau khi Nabokov hoàn thành cuốn tiểu thuyết độc đáo và đầy tranh cãi, Lolita. Với sự ám ảnh không dứt về thế giới đen tối của Humbert trong Lolita, Nabokov tạo ra Pnin. Nhân vật đó là một hình ảnh hoàn toàn trái ngược với Humbert.

Nếu Humbert đẹp trai quyến rũ, tiếp xúc với người vợ của mình chỉ với mục đích “gần gũi” cô con gái Lolita vừa 12 tuổi, thì Pnin lại là một người đàn ông xấu xí, có phần khờ khạo, nhưng tử tế, ấm áp. Cách Pnin đối xử với người vợ cũ hay cậu con trai của vợ, cũng đầy dịu dàng. Đó là cách Pnin tạo nên sự ấm áp.

Nỗi ám ảnh của Humbert chính là sự thèm khát, nỗi ám ảnh của Pnin là sự hoài nhớ… Ở họ là tất thảy đối lập, nhưng Nabokov dựng nên hai thế giới đối lập ấy đều từ một vẻ đẹp lộng lẫy, ám ảnh đến mức cực đoan. Cuối cùng, Pnin hay Humbert đều phải chịu đựng bi kịch, từ chính nỗi ám ảnh của họ, đầy khắc khoải nhưng luôn thật đẹp.

Nabokov đã từng chia sẻ rằng, trong Pnin ông đã tạo nên một nhân vật hoàn toàn mới, chưa từng xuất hiện trong cuốn sách nào khác của ông. Pnin là một người đàn ông thuần khiết, có đạo đức, lòng can đảm. Ông là một học giả, một người bạn trung thành, một người yêu sâu nặng. Với Nabokov, Pnin là một sự an ủi.

Thủy Nguyệt
https://news.zing.vn/dau-an-cua-cam-thuc-luu-vong-trong-tieu-thuyet-nabokov-post800132.html

10 October 2017

Pnin của Nabokov: Biết thua trong danh dự!

Là con trai của một chính trị gia giàu có của nước Nga Sa Hoàng, Nabokov quen sống trong nhung lụa từ nhỏ, và nếu không có cách mạng Nga, thì ông có lẽ sẽ được thừa hưởng số tài sản trị giá hàng trăm triệu đô la Mỹ. (Thực tế thì khu bất động sản ông đã được thừa kế trước khi phải rời bỏ nước Nga, hiện nay có giá khoảng 200 triệu đô la Mỹ).


Cuộc cách mạng vĩ đại diễn ra cách đây đúng 100 năm đã tước đoạt của Nabokov rất nhiều thứ, và trong các tác phẩm của ông luôn có những chi tiết nhắc đến nước Nga hiện đại với những ám ảnh khó quên, chẳng hạn theo Nabokov, trong cuốn Pnin, thì dân lưu vong Nga là:
"...một xã hội tha hương mà trong suốt một phần ba thế kỷ hưng thịnh hầu như vẫn vô danh với giới trí thức Mỹ, những kẻ mà với họ thì ý niệm về sự di cư của dân Nga được dựng lên bởi sự tinh khôn của hệ thống tuyên truyền Xô-viết thành một đám đông mơ hồ và hoàn toàn hư cấu gồm toàn những cái gọi là bọn Tờ-rốt-kít (dẫu có là ai), bọn phản động phá sản, bọn Chê-ka cải tạo hoặc cải trang, các quý bà có tước vị, các linh mục chuyên nghiệp, chủ nhà hàng, và các nhóm quân Bạch Vệ, tất cả những kẻ này chẳng có chút ý nghĩa nào về mặt văn hóa."
Không thể nói Nabokov có thiện cảm với chính quyền Xô-viết, tuy nhiên, là một nhà quý tộc được giáo dục tốt, ông nhìn nhận về cuộc cách mạng đó cũng như một cuộc đấu súng mà rốt cuộc cũng phải có kẻ thắng người thua, vấn đề là anh biết thua trong danh dự hay không. 
Có lẽ đó cũng là sự khác biệt của một người lưu vong quý tộc với những kẻ lưu vong thiếu văn hoá, không biết thua cuộc trong danh dự, và mãi mãi ôm lòng hận thù với quê hương, dù chính họ cũng chẳng bao giờ tìm được sự bình yên nơi đất khách!


22 January 2017

Kiệt tác “Mây, hồ, tháp” của Vladimir Nabokov

Có những tác giả mà ta nên đọc một lần trong đời, và Vladimir Nabokov (Nga) là một trong số ít tác giả như vậy.


Mây, hồ, tháp


Sinh năm 1899 tại Nga và mất năm 1977 tại Thuỵ sỹ, văn hào vĩ đại này đã sống qua 2 thế kỷ, 2 cuộc thế chiến, và tại khắp các thành phố vĩ đại nhất của châu Âu: Cố đô Saint-Peterburg của Nga, Yalta, Berlin, Paris,… Cuộc đời ông trải qua cả những tháng năm vàng son của một gia đình tư sản Nga, thậm chí khu bất động sản ông được thừa kế ở ngoại ô Saint-Peterburg hiện nay có giá trị hơn 200 triệu USD, cho đến những ngày tháng phải đi dạy tennis và đấm bốc để kiếm sống nuôi gia đình. Tuy nhiên, cuối cùng ông cũng vượt lên khỏi mọi gian khó để trở thành một trong các nhà văn vĩ đại nhất của nhân loại.
Trong kho báu di sản văn chương Vladimir Nabokov, thì Tổng tập truyện ngắn của ông là một trong các tác phẩm được đánh giá cao nhất. Bao gồm 68 truyện ngắn được viết suốt những năm thanh niên và trung niên, tại nhiều nước trên thế giới, và qua nhiều giai đoạn thăng trầm khác nhau của sự nghiệp, Tổng tập này cho độc giả và các nhà nghiên cứu thấy được bức tranh toàn diện nhất về cuộc đời nhà văn, thấy sự hoàn thiện dần dần kỹ năng viết của ông, cách sử dụng từ rất đặc trưng cho Nabokov, các thủ pháp văn chương cũng như những phác thảo về các nhân vật sau này trong các tiểu thuyết lớn nhất của ông.
Rất nhiều truyện ngắn trong bộ sách được đánh giá như những kiệt tác vĩ đại nhất của văn chương nhân loại, chẳng hạn “Dấu hiệu và Biểu hiệu”, “Xuân Fialta”, “Mây, hồ, tháp”, “Chị em nhà Vane”… Rất nhiều nhà văn đã chịu ảnh hưởng từ Nabokov, và không ít nhà văn coi ông là người thầy của mình.
Mây, hồ, tháp

Do sự phức tạp, bút pháp cầu kỳ, vốn từ rất rộng lớn và cực kỳ khó dịch, nên văn chương Nabokov ít được biết đến tại Việt Nam. Gần một thế kỷ đã trôi qua từ khi nhà văn thành danh tại châu Âu và Mỹ, vậy mà chỉ có vài cuốn sách của ông xuất hiện trong bản dịch tiếng Việt. Dịch Nabokov là một công việc nghiêm túc, đòi hỏi sự am hiểu văn hoá Nga, Mỹ, châu Âu cũng như vốn sống nhất định và chắc chắn là kỹ năng sử dụng tiếng Việt ở mức cao nhất. Cũng không có gì lạ, là nhiều bản dịch tác phẩm Nabokov không được đánh giá cao tại nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. 
Việc Nhà xuất bản Văn học và Công ty Zenbook cho ra đời “Mây, hồ, tháp” - quyển 2 của bộ Tổng tập truyện ngắn Nabokov chỉ sau khi quyển 1 với cái tên “Mỹ nhân Nga” được xuất bản cách đây hơn 4 tháng đã cho thấy rằng Nabokov bắt đầu được quan tâm hơn tại Việt Nam. Nhiều độc giả đã thấy được vẻ đẹp huyền bí và sắc sảo của các tác phẩm của ông, và có lẽ sự thành công của cuốn sách “Mỹ nhân Nga” đã giúp cho nhà xuất bản mạnh dạn đầu tư cho dịch giả Thiên Lương tiếp tục chuyển ngữ những tác phẩm hết sức phức tạp và tinh tế của Vladimir Nabokov. 
Tất nhiên mỗi mảng sách có thị trường riêng của mình. Sách ngôn tình có độc giả của nó, sách tô màu có khách hàng của nó, sách dạy làm giàu, dạy ăn chay, giữ sức khoẻ cũng rất có ích cho mọi người. Nhưng văn chương đỉnh cao cũng như âm nhạc cổ điển, phim nghệ thuật, ballet, opera,… vẫn có những người hâm mộ trung thành. Và một nền văn hoá không thể thiếu vắng cả cái này, cả cái kia. Nghệ thuật hàn lâm có thể có ít khách vào những tháng năm gian khổ của dân tộc, nhưng cùng với sự thịnh vượng, thì sẽ càng ngày càng có nhiều người tìm về với nó như một niềm tin vào vẻ đẹp thánh thiện trên những bậc thang cao hơn của cảm xúc. 
Mặt khác, nước Nga vĩ đại vốn có một nền văn chương hàng đầu thế giới, tuy nhiên trước đến giờ, hầu như không có tác phẩm lớn nào của các nhà văn Nga được dịch nghiêm túc và từ ngôn ngữ gốc qua tiếng Việt. Hầu hết được dịch qua ngôn ngữ thứ ba, chẳng hạn tiếng Pháp, Anh hay Hoa, và làm mất đi rất nhiều chất văn cũng như tính Nga trong tác phẩm. Điều đó cũng dễ hiểu thôi. Trong bối cảnh ấy thì việc “Mây, hồ, tháp” cũng như “Mỹ nhân Nga” đều được dịch giả Thiên Lương dịch từ ngôn ngữ gốc mà Vladimir Nabokov dùng để sáng tác, có thể coi như một nỗ lực đáng ghi nhận với văn chương Nga và độc giả Việt. 
Theo đại diện công ty phát hành sách, thì mặc dù chưa bán được đến hàng chục vạn cuốn như các dòng văn học mực tím hay truyện ngôn tình, nhưng cả “Mỹ nhân Nga” và “Mây, hồ, tháp” đều nhận được sự quan tâm lớn của độc giả, nhiều hơn nhiều so với dự tính của họ khi làm dòng sách cao cấp này. Và đó cũng là niềm tin để những người làm sách sẽ tiếp tục cố gắng đưa thêm các tác phẩm kinh điển của Vladimir Nabokov và các nhà văn lớn khác vào Việt Nam.

Xuân Sang

Bài đã đăng trên báo Laodong.

19 January 2017

'Mây, hồ, tháp' - thêm một kiệt tác của Nabokov

Bản dịch của Thiên Lương

Bài đăng trên báo Thanh Niên.



Chưa đầy 5 tháng sau khi phát hành Mỹ nhân Nga, quyển 1 trong bộ Tổng tập truyện ngắn Nabokov bao gồm tất cả 4 quyển, nhà xuất bản Văn học và Công ty Zenbook tiếp tục cho ra đời quyển 2 với tên Mây, hồ, tháp. Người dịch vẫn là dịch giả Thiên Lương. 

Với một tác giả nổi tiếng là khó dịch như Nabokov, thì việc dịch xong 17 truyện ngắn và cho xuất bản thành một cuốn sách dày 320 trang chỉ trong vòng 5 tháng, là một nỗ lực rất lớn của nhà sách và dịch giả, đặc biệt nếu tính đến thời gian biên tập, xin giấy phép xuất bản và thủ tục in ấn rất chậm cuối năm, thì có lẽ dịch giả chỉ mất khoảng 3 tháng cho bản dịch phức tạp và dày dặn này.

Một nhà văn gây nhiều tranh cãi

Vladimir Nabokov, nhà văn Mỹ gốc Nga, vốn nổi tiếng là một nhà văn của các nhà văn, có danh tiếng ngang với các đại văn hào như Shakespeare, Lev Tolstoy, Dostoevski, Chekhov. Tuy nhiên, do cách tư duy hình ảnh và cách viết cầu kỳ, quý tộc, siêu văn bản, lại chịu ảnh hưởng từ tiếng Nga mẹ đẻ, nên văn chương của ông không dễ đọc với độc giả bình thường. Không ngẫu nhiên mà Edmund Wilson, một nhà phê bình văn chương nổi tiếng, từng nhận xét rằng Nabokov nhiều khi viết bằng một thứ tiếng không hẳn là tiếng Anh. Nhân thể: các cuộc bút chiến dữ dội giữa Nabokov và Edmund vừa được in thành sách (The Feud) và nhận được nhiều chú ý của độc giả Anh - Mỹ. Thực sự thì cách viết của Nabokov có lúc rất lãng mạn, dịu dàng, mềm mượt, lại có lúc khô khan, cứng rắn và hết sức tàn nhẫn. Phải đi cùng ông khá lâu thì độc giả mới bắt đầu bắt được mạch văn và khi đó thì họ sẽ bị chinh phục tuyệt đối. Tuy nhiên, thời gian trả lời cho tất cả, Nabokov đã ghi danh vào lịch sử như một văn hào vĩ đại, còn Edmund thì chẳng còn được mấy ai nhớ đến.

Mây, hồ, tháp


Trong Xuân Fialta, một trong các truyện ngắn được in trong Mây, hồ, tháp có một đoạn văn mà Nabokov viết về một nhà văn là chồng của cô gái tình nhân của người kể chuyện như sau:

Lúc tôi gặp y thì sách y đã nổi tiếng; nỗi hân hoan nông nổi mà thoạt đầu tôi cho phép mình khi đọc y, đã bị thay thế bằng cảm giác hơi ghê tởm. Khi y bắt đầu nghiệp viết thì xuyên qua các cửa sổ sơn phết thuộc thứ văn xuôi dị thường của y vẫn còn có thể nhận ra được khu vườn nào đó, bố cục lơ mơ quen thuộc nào đó của cây cối... nhưng sau mỗi năm thì nét vẽ trở nên mỗi lúc một dày đặc hơn, màu hồng và màu tía mỗi lúc một hăm dọa hơn; giờ thì đã chẳng còn thấy được gì qua tấm kính quý đáng sợ ấy nữa, và có cảm giác rằng nếu đập vỡ nó thì chỉ có một thứ duy nhất phang vào tâm hồn là màn đêm đen kịt và hoàn toàn trống rỗng. Nhưng y từng nguy hiểm làm sao trong thời sung sức của mình, từng phun những chất kịch độc nào, từng quất những nhát roi quyết liệt nào, nếu y bị đụng chạm đến! Sau khi cơn cuồng phong của y đi qua, y để lại sau mình một mặt nước phẳng lặng trơ trụi, nơi cây cối đổ rạp nằm bằng bặn, bụi còn cuồn cuộn, và người điểm sách hôm qua, tru lên vì đau, quay như con cù trong bụi.

Chính đoạn văn này khiến cho nhiều học giả cho rằng Nabokov đã châm biếm chính bản thân mình và cũng dự báo những cuộc bút chiến không khoan nhượng sau này giữa ông và nhiều nhà phê bình.

Những kiệt tác văn chương của Nabokov

Mặc dù được biết đến nhiều hơn với các tiểu thuyết, nhưng Nabokov cũng rất thành công trong địa hạt truyện ngắn. Trong hầu hết các bảng xếp hạng truyện ngắn Anh ngữ hay nhất, Nabokov luôn có vài tác phẩm ngự ngay chiếu trên, thậm chí hạng đầu. Và nếu như trong quyển 1 (Mỹ nhân Nga) đã có kiệt tác Dấu hiệu và Biểu hiệu, truyện ngắn luôn được xếp hạng đầu tiên trong các truyện ngắn Anh ngữ hay nhất lịch sử, thì trong quyển 2 (Mây, hồ, tháp) này, có Xuân Fialta cũng là một kiệt tác hết sức đặc biệt, luôn nhận được những đánh giá cao nhất của giới văn chương Anh Mỹ.

Xuân Fialta được Vladimir Nabokov viết xong vào tháng 4.1936, đăng lần đầu trên tạp chí Sovremennie zapiski, số 61, tháng 7.1936, tại Paris; bản dịch tiếng Anh do Nabokov và Peter Pertzov thực hiện được in trong các tuyển tập Nine Stories, 1947 và Nabokov’s Dozen, 1958. Mặc dù bản dịch tiếng Anh (với cái tên Spring in Fialta) không còn giữ được nguyên vẹn chất văn ban đầu của tác giả, nhưng nó vẫn được coi là một trong các viên ngọc quý giá của văn chương Anh ngữ, đánh dấu sự chín muồi của tài năng Nabokov, với kỹ thuật viết đạt đến độ hoàn hảo và có thể nói Xuân Fialta, với cả độ dài của nó (hơn 10 ngàn âm tiết tiếng Việt) và cách xây dựng tuyến nhân vật, câu chuyện, các ẩn dụ, chất thơ,… đã vượt hẳn lên trên các truyện ngắn bình thường, có thể coi là một tiểu thuyết ngắn của Nabokov.

Mây, hồ, tháp - truyện ngắn được dịch giả chọn làm tên cho cả cuốn sách, cũng là một tác phẩm hết sức đặc biệt. Mặc dù ai cũng biết sự ác cảm của Vladimir Nabokov với Freud, tuy nhiên các biểu tượng trong truyện ngắn này lại rất đậm chất phân tâm học và ẩn dưới bề ngoài khiêm nhường của một câu chuyện buồn thương về cảnh đời một người lưu vong trong chuyến đi giữa những kẻ xa lạ nơi đất khách quê người, lại là những điều lớn lao hơn rất nhiều, bao trùm thân phận con người nói chung chứ không riêng một mình ai.

"Mây, hồ, tháp" - Quyển 2 của Tổng tập truyện ngắn Nabokov
Những câu chuyện bên ngoài tác phẩm luôn là điều khiến cho một tác phẩm văn chương thực sự có được khác biệt với vô số truyện ngắn, truyện dài tầm thường khác. Và Vladimir Nabokov là một thiên tài trong việc tạo dựng quanh tác phẩm của mình những thế giới cảm xúc lớn hơn nhiều so với những gì độc giả bình thường nhìn thấy.

Khó đọc và đương nhiên là khó dịch, các kiệt tác của Nabokov đều rất vất vả mới tìm được đường đến độc giả của các nước không nói tiếng Anh. Tuy nhiên, những văn hào vĩ đại như ông cần được đọc và nghiên cứu kỹ ở mọi nơi, vẻ đẹp từ thế giới của họ sẽ làm cho người ta thấy được những tầng cao hơn, những vách núi kỳ vĩ hơn, những vực sâu hơn của cảm xúc, và làm cho cuộc sống có ý nghĩa hơn.

Thanh Bình 

16 January 2017

Tuyển truyện ngắn thứ hai của Nabokov đến với độc giả Việt

 "Mây, hồ, tháp" – quyển 2 của bộ Tổng tập truyện ngắn Nabokov vừa được dịch giả Thiên Lương và NXB Văn học đưa đến với độc giả Việt Nam.

Chấn Hưng

Zing

Sau quyển 1 với tựa đề Mỹ nhân Nga ra mắt giữa tháng 8/2016, quyển 2 này mang lại cho những người đam mê văn học Nga và văn chương đỉnh cao thêm 17 kiệt tác của một trong các nhà văn vĩ đại nhất của nhân loại, người vẫn được coi như nhà văn của các nhà văn.



Là văn hào Mỹ gốc Nga, Vladimir Nabokov viết hàng chục truyện ngắn và tiểu thuyết bằng tiếng Nga sau khi rời tổ quốc qua châu Âu sống vào năm 1919. Tuy nhiên, từ lúc chuyển sang Mỹ vào năm 1940, ông bắt đầu sáng tác bằng tiếng Anh.

Tổng tập truyện ngắn Nabokov bao gồm toàn bộ 68 tác phẩm của ông.

Do được viết trong hàng chục năm, qua nhiều quốc gia, bằng cả tiếng Anh và Nga, nên 68 truyện ngắn này có thể coi như những cột mốc quan trọng, phản chiếu các thay đổi tư tưởng cũng như sự hình thành phong cách bậc thầy của Nabokov.

Rất nhiều tác phẩm có thể coi như bản thu gọn của các tiểu thuyết lớn của ông, và nhiều nhân vật, chi tiết được phác thảo từ chính các truyện ngắn này.

Mây, hồ, tháp - Tập truyện ngắn thứ hai của Vladimir Nabokov vừa ra mắt độc giả Việt Nam.tion

Theo lời dịch giả Thiên Lương, mặc dù mỗi tác phẩm của Nabokov đều có nét đặc sắc riêng, tuy nhiên trong quyển 2 của bộ tổng tập vẫn có những truyện ngắn đặc biệt nổi trội.

Chẳng hạn: Xuân Fialta - không chỉ được đánh giá là một trong những truyện ngắn hay nhất, được viết rất trữ tình và phóng khoáng với những chi tiết châm biếm hết sức đặc trưng của Nabokov, mà còn được nhiều học giả nhận định như một tự truyện ẩn chứa nhiều bí mật cuộc đời tác giả.

Chính ông xuất hiện thấp thoáng cả trong vai người kể chuyện cũng như người chồng của tình nhân anh ta. Xét trên mọi phương diện, có thể nói rằng Xuân Fialta vượt hẳn ra ngoài mọi chiều kích của một truyện ngắn thông thường.

Mây, hồ, tháp - không chỉ đơn giản kể về chuyến du lịch kỳ lạ nơi đất khách của một người lưu vong Nga, mà còn ẩn giấu vô số dấu hiệu và biểu hiệu của Nabokov về tình yêu với gia đình, với quê hương, cùng các ẩn ức tình dục sâu kín nhất trong lòng người đàn ông.

Lance - truyện ngắn cuối cùng của Nabokov và cũng là tác phẩm khoa học viễn tưởng gần như duy nhất của ông, được viết hết sức cầu kỳ với những tiên đoán vượt thời gian về ngành du hành vũ trụ tương lai lồng ghép cùng thi ca và những suy ngẫm của chính tác giả về gia đình mình.

Cuộc trở về của Chorb là một tác phẩm đậm chất điện ảnh từng được chọn làm tên chung cho một tuyển tập nổi tiếng của ông,

Nỗi sợ (1926) - đi trước Buồn nôn (La Nausée) của Jean-Paul Sartre hơn chục năm về một số sắc thái tư tưởng nhất định.

Vladimir Nabokov: Nhà văn của các nhà văn

Có thể dễ dàng thấy điểm chung trong các truyện ngắn của Nabokov: hồi ức đau buồn và kiêu hãnh về nước Nga vĩ đại mà ông buộc phải từ giã khi còn rất trẻ và bỏ lại sau lưng không chỉ những năm tháng thanh xuân tươi đẹp mà cả một gia tài khổng lồ.

Tuy nhiên, nhà văn không để mình kẹt lại lồng bẫy vàng son dĩ vãng ấy mà đã tự xây dựng cho mình một thế giới mới, vượt lên trên những xót xa tiếc nuối tầm thường - một thánh đường văn chương kỳ vĩ với các nhân vật dễ sợ được bày ra ngoài mặt tiền và trên các tháp chuông cao ngất...

Nhưng nếu ai gạt bỏ được định kiến và kìm nén được nỗi sợ để bước những bước nhỏ thành kính vào đó qua các cánh cửa oai nghiêm nặng nề, thì biết đâu, sẽ tìm được sự bình yên, sắc màu thiên đường và vẻ đẹp thánh thiện không thuộc về thế giới trần tục bên ngoài.

15 January 2017

"Mây, hồ, tháp" được in xong ngày 11/01/2017


5 tháng sau "Mỹ nhân Nga" - quyển I trong bộ sách 4 quyển Tổng tập truyện ngắn Vladimir Nabokov, thì quyển II - "Mây, hồ, tháp" đã được in xong. Với 3 tháng dịch, 1 tháng biên tập, 1 tháng xin GPXB và các thủ tục in ấn cho một cuốn sách phức tạp dày 320 trang, cũng có thể coi là một kỷ lục cá nhân trong việc dịch Nabokov.


4 October 2016

"Mỹ nhân Nga" của Nabokov - một thách thức về văn chương và dịch thuật

17 truyện ngắn của văn hào vĩ đại Vladimir Nabokov vừa được NXB Văn học và Công ty Zenbook xuất bản tại VN trong cuốn Mỹ nhân Nga. Dịch giả Thiên Lương là người trực tiếp thực hiện việc chuyển ngữ.

Nhà văn của các nhà văn

Vladimir Nabokov sinh năm 1899 tại cố đô Saint Petersburg của Nga, và qua đời năm 1977 tại Montreux, Thụy Sỹ. Ông là nhà văn nổi tiếng thế giới với nhiều kiệt tác như Pnin, Ada hay Ardor, Lửa nhạt,  Nói đi, Ký ức, Lolita và bộ Tổng tập truyện ngắn bao gồm toàn bộ 68 truyện ngắn ông từng sáng tác trong đời.

Mặc dù Nabokov có danh tiếng lừng lẫy trên văn đàn thế giới, nhưng các tác phẩm của ông hầu như chưa được dịch ra tiếng Việt ngoài LolitaTiếng cười trong bóng tối. Nguyên nhân do phong cách viết của ông giàu hình ảnh, đa nghĩa, cầu kỳ, chơi chữ rất tuyệt vời, ngoài ra còn theo thủ pháp dòng ý thức (stream of consciousness) rất khó dịch qua tiếng Việt. Sự khác biệt quá lớn giữa văn hóa Việt, Nga và Mỹ cũng làm cho việc chuyển ngữ rất dễ gặp sai lầm, thậm chí làm hỏng toàn bộ tác phẩm chỉ vì các lỗi dịch. Các tác phẩm của những nhà văn viết theo phong cách này đều rất khó dịch và rất kén độc giả. Marcel Proust, James Joyce, Virgina Woolf cũng là các văn hào nổi tiếng với những tác phẩm viết theo phong cách này, và rất đáng tiếc là các tác phẩm lớn của họ vẫn chưa được dịch ra tiếng Việt, và một vài bản dịch hiếm hoi thì không mấy thành công và thậm chí phải hứng chịu rất nhiều lời than phiền về chất lượng dịch.

Ngoài ra, Nabokov còn là giáo sư văn chương đại học, nên ông sử dụng các kỹ thuật viết cực kỳ sáng tạo, với vốn từ vựng vô cùng phong phú. Trong cuốn Lolita, Nabokov sử dụng đến 14.000 từ đơn nhất, để so sánh, có thể lấy ví dụ cuốn Bắt trẻ đồng xanh của J.D. Salinger chỉ sử dụng 3.500 từ đơn nhất. Hầu hết các tiểu thuyết tiếng Anh sử dụng vốn từ vựng trong khoảng 3.000 - 5.000. Hiển nhiên là việc dịch một tác phẩm được viết với vốn từ lên đến 14.000 sẽ phức tạp theo cấp số nhân so với các tác phẩm dùng vỏn vẹn vài ba ngàn từ.


Các thách thức dịch thuật

Khó dịch, khó đọc và khó có độc giả bình dân là những lý do khiến các công ty sách vẫn ngại ngần với Nabokov. Tuy nhiên, các truyện ngắn của Nabokov có thể là những bài tập, những lối tắt, những cửa sổ, những chặng nước rút cho độc giả khả năng tiếp cận được các tiểu thuyết lớn của ông. Được viết suốt quãng thời gian gần nửa thế kỷ, chúng cũng là các cột mốc trong đời nhà văn, các kỷ niệm trong sự nghiệp vĩ đại của ông, các thử nghiệm sáng tạo văn chương mà sau này đôi khi được ông dùng lại trong tiểu thuyết của mình. Rất nhiều học giả cho rằng qua các truyện ngắn có thể thấy được sự phát triển cả về con người và nghệ thuật của Vladimir Nabokov theo thời gian.

Mặc khác, phần lớn truyện ngắn của Nabokov cũng là các kiệt tác được văn giới quốc tế yêu thích, chẳng hạn Dấu hiệu và Biểu hiệu, Chị em nhà Vane, Cẩm nang du ngoạn Berlin, Cơn giông, Mối tình đầu, Lễ Giáng sinh, Một truyện đồng thoại.Dấu hiệu và Biểu hiệu còn được đánh giá là truyện ngắn Anh ngữ hay nhất lịch sử. Chắc chắn nếu được dịch thật tốt qua tiếng Việt, chúng sẽ là các tác phẩm rất giá trị, sẽ là tư liệu cho công việc nghiên cứu văn chương đỉnh cao và sẽ đóng góp rất nhiều cho kho tàng văn học dịch tại VN.

Theo lời dịch giả Thiên Lương, thì mặc dù anh đã có kinh nghiệm qua nhiều năm nghiên cứu và dịch Lolita, song việc dịch truyện ngắn Nabokov không hề dễ hơn so với các tiểu thuyết lớn của ông, nếu như không muốn nói là còn khó hơn. Mặc dù được viết ngắn gọn, nhưng chính sự ngắn gọn ấy khiến cho các tác phẩm rất cô đọng, rất bất ngờ và được nhà văn xử lý rất kỹ. Điểm đặc biệt nữa trong sự nghiệp Nabokov là nhà văn sáng tác bằng cả hai ngôn ngữ Anh và Nga, khiến cho các dịch giả của ông buộc phải dịch được từ cả hai ngôn ngữ nếu không muốn phải dịch qua ngôn ngữ trung gian và làm mất đi vẻ đẹp nguyên bản. Dẫu sao thì một bản dịch văn chương từ ngôn ngữ thứ ba vẫn luôn bị đánh giá thấp trong con mắt của các học giả.


Tâm hồn Nga trong trái tim một nhà văn Mỹ

Những dòng cuối truyện ngắn Lá thư đến nước Nga có thể coi như những phút giây yếu lòng hiếm hoi mà Nabokov mở cho ta thấy loáng thoáng tầng ngầm tâm hồn ông:

Các thế kỷ sẽ trôi qua,
học sinh sẽ chán ngấy 
lịch sử những chấn động của chúng ta,
tất cả sẽ qua đi, tất cả sẽ qua đi, 
song 
hạnh phúc của tôi, 
bạn yêu ơi, 
hạnh phúc của tôi sẽ còn mãi,
trong ánh đèn đường ẩm ướt, 
trong chỗ ngoặt cẩn thận 
của cái cầu thang đá 
dốc xuống con kênh nước đen, 
trong nụ cười một đôi khiêu vũ, 
trong mọi thứ 
mà Chúa 
hào phóng bao bọc 
quanh sự cô đơn của con người.

Phải sống hơn nửa thế kỷ xa quê hương từ tuổi đôi mươi, song Nabokov không bao giờ sở hữu ngôi nhà nào ở nước ngoài, mặc dù thành công của Lolita đã mang lại cho ông cả một gia tài lớn. Dường như tâm hồn ông vẫn vương vấn đâu đó bên sông Neva và các con kênh của thành phố Saint Petersburg thần thánh. Dẫu có viết bằng tiếng Anh, thì chất Nga vẫn quyện vào từng sợi xơ giấy sách ông. Và có lẽ sự đa văn hóa trong tâm hồn một ông hoàng lưu vong cũng phần nào khiến cho văn chương Nabokov luôn làm mê hoặc lòng người, dẫu ông đã từ giã cõi này gần bốn mươi năm về trước.

Mỹ nhân Nga mới chỉ là quyển 1 trong 4 quyển tổng tập truyện ngắn Nabokov. Theo dự tính của Zenbook và dịch giả Thiên Lương, thì toàn bộ tập sách này sẽ hoàn thành vào năm 2019, nhân dịp kỷ niệm 120 năm ngày sinh nhà văn. Tuy nhiên, dẫu khá dày, với gần 1.500 trang tiếng Việt, nhưng bộ sách này mới chỉ là một phần nhỏ trong di sản vĩ đại của Nabokov, và chắc chắn cần rất nhiều nỗ lực nữa của các dịch giả, các công ty sách, các nhà xuất bản và các nhà nghiên cứu để các kiệt tác khác của ông đến được với độc giả VN.

Bạch Dương

Bài đăng trên báo Thanh Niên.

30 September 2016

Sách 'Mỹ nhân Nga' giới thiệu 17 truyện ngắn của Nabokov

Tập truyện ngắn của cha đẻ tiểu thuyết "Lolita" - nói về nỗi đau thầm kín của một ông hoàng lưu vong - vừa ra mắt ở Việt Nam.



Quyển một của bộ tổng tập truyện ngắn Nabokov vừa được Nhà xuất bản Văn học và Zenbook phát hành tại Việt Nam. Quyển này mang tên Mỹ nhân Nga gồm 17 truyện ngắn trong tổng số 68 truyện Nabokov từng sáng tác. Dịch giả Thiên Lương là người chuyển ngữ các truyện ngắn từ bản gốc tiếng Anh và tiếng Nga.

Bìa cuốn Mỹ nhân Nga

Vladimir Nabokov có phong cách viết hoa mỹ, uyên bác, phức tạp và chứa đựng vô vàn "ngón" chơi chữ, bẫy ngôn từ. Cách xếp đặt tác phẩm của ông được nhận xét đẹp hoàn hảo như cánh bướm, lại trí tuệ như bàn cờ vua luôn mê hoặc, cuốn hút người đọc. Tuy vậy, sự cầu kỳ trong văn phong của ông khiến cho nhiều người có chút ngại ngần khi tiếp cận các tác phẩm của Nabokov.

Ở đại văn hào này tích hợp nét đa văn hóa trong một con người gốc quý tộc Nga. Ông trưởng thành với đủ nghề ở châu Âu, rồi làm giáo sư văn chương ở Mỹ. Những điều này làm cho văn của ông tải được không chỉ sự vĩ đại, khoáng đạt, chất thôn dã và vẻ đẹp tâm hồn Nga mà cả tinh thần tự do, bình đẳng, bác ái của châu Âu, Mỹ.

Những yếu tố trên gây không ít khó khăn cho việc dịch sách của Nabokov. Người dịch Mỹ nhân Nga giữ quan điểm bản dịch chỉ có giá trị khi được dịch từ ngôn ngữ gốc. Do Nabokov sáng tác bằng cả tiếng Anh và tiếng Nga, 68 truyện ngắn của ông có một lịch sử xuất bản khá phức tạp. Chúng được đăng rải rác suốt nửa thế kỷ trên các tờ báo Nga và Mỹ. Sau này, chúng được con trai nhà văn gom lại và in trong một tổng tập với tên Collected Stories (Tổng tập truyện ngắn).

"Dẫu sao chăng nữa, công nghệ hiện đại ở một thế giới phẳng hơn cũng làm cho việc dịch thuật trở nên thuận lợi hơn, cho dịch giả cơ hội tra cứu sâu hơn, nhanh hơn và rộng hơn, nhờ vậy mà các tác giả khó dịch như Nabokov sẽ có nhiều cơ hội đến được với độc giả Việt Nam", dịch giả Thiên Lương nói.

Dù là tác giả được đánh giá rất cao trên thế giới, thậm chí được xem như nhà văn của các nhà văn, Nabokov có vị trí khá khiêm tốn ở thư viện văn học dịch Việt Nam. Gần 40 năm từ khi nhà văn qua đời tại Thụy Sĩ, chỉ một phần rất nhỏ thuộc di sản văn chương của ông được giới thiệu đến độc giả Việt Nam. Trong đó, chỉ có hai cuốn Lolita và Tiếng cười trong bóng tối được dịch từ nguyên tác và gây tiếng vang trong giới đọc sách.

Bộ tổng tập truyện ngắn của nhà văn Nabokov được chia làm 4 quyển, đều do dịch giả Thiên Lương chuyển ngữ. Dự kiến, quyển cuối cùng được dịch xong vào năm 2019 - năm kỷ niệm 120 năm ngày sinh Nabokov.

Hoàng Nam