7 March 2014

Về Cuốn Sách Nhan Đề Lolita




Sau khi tôi nhập vào hiện thân ông John Ray tinh tế, một nhân vật trong Lolita và cũng là người thảo Lời Tựa, thì bất cứ lời nhận xét nào xuất phát trực tiếp từ tôi đều có thể gây cho người ta ấn tượng — và trên thực tế cũng có thể gây ấn tượng cho chính tôi — như một hiện thân của Vladimir Nabokov đang nói về cuốn sách của chính ông ta. Dẫu sao chăng nữa, có vài điểm vẫn cần phải được tranh luận; và thủ pháp tự truyện có thể khiến cho người khéo bắt chước và người làm mẫu hòa lẫn vào với nhau.

Các giảng viên văn chương hay có khuynh hướng sáng chế những luận đề như thể “Mục đích của tác giả là gì?” hay thậm chí trầm trọng hơn “Anh chàng này muốn nói điều gì đây?” Mà tôi tình cờ lại là dạng tác giả từ ngay lúc bắt đầu làm việc với cuốn sách nào đó đã chẳng có mục đích nào khác ngoài việc thoát khỏi cuốn sách ấy, và là người, khi được thỉnh cầu giải thích nguyên khởi và diễn tiến của nó, sẽ cậy nhờ vào những thuật ngữ cổ giả dụ như sự Tương Tác của Cảm Hứng với Phối Hợp — những thứ mà, tôi xin thú nhận, nghe như một ảo thuật gia giảng giải về mánh lới này bằng việc biểu diễn mánh lới khác.

Nhịp đập khẽ khàng đầu tiên của Lolita chạy suốt qua tôi hồi cuối năm 1939 hay đầu năm 1940, ở Paris, vào thời gian mà tôi nằm bẹp vì căn bệnh đau dây thần kinh liên sườn tồi tệ. Theo những gì tôi còn nhớ được, thì cái rùng mình khởi nguồn cảm hứng đã được khơi gợi phần nào bởi một bài tường thuật trên báo về con dã nhân trong vườn bách thú Jardin des Plantes, kẻ, sau nhiều tháng bị một khoa học gia dỗ ngon dỗ ngọt, đã tạo ra được bức tranh đầu tiên từng được vẽ bằng chì than bởi một con thú: bức phác họa này cho thấy những thanh chấn song của cái chuồng nhốt tạo vật đáng thương ấy. Tài liệu có tính thúc đẩy này không có sự liên quan về mặt nguyên bản đến mạch suy nghĩ tiếp theo, cái, dẫu sao thì, cũng đã dẫn đến, nguyên mẫu của tiểu thuyết này của tôi, một truyện ngắn khoảng ba chục trang. Tôi viết nó bằng tiếng Nga, ngôn ngữ mà tôi đã sử dụng để viết tiểu thuyết từ năm 1924 (những cuốn hay nhất trong số chúng chưa từng được dịch qua tiếng Anh, và tất cả bị cấm, vì những lý do chính trị, ở Nga). Nam nhân là dân Trung Âu, nymphet ẩn danh là dân Pháp, và địa điểm là Paris với Provence. Tôi cho y cưới người mẹ đau ốm của cô bé, bà này qua đời sau đó ít lâu, và sau một toan tính bất thành nhằm lợi dụng cô bé mồ côi ở một buồng khách sạn, Arthur (bởi đấy là tên y) lao mình vào dưới bánh xe tải. Tôi đọc truyện này trong một đêm thời chiến dưới ánh đèn bọc giấy xanh lơ cho một nhóm bạn — Mark Aldanov, hai nhà cách mạng xã hội, với một bác sỹ nữ; song tôi không vừa ý với nó và hủy nó một hôm nào đó sau khi chuyển qua Mỹ hồi năm 1940.

Khoảng năm 1949, tại Ithaca, thuộc vùng Bắc New York, nơi tôi dạy văn học Nga, nhịp đập ấy, vốn chưa khi nào ngưng hẳn, bắt đầu quấy tôi trở lại. Sự phối hợp kết giao cùng cảm hứng bằng niềm đam mê tươi mới và cuốn hút tâm trí tôi vào một cách xử lý mới với chủ đề, lần này bằng tiếng Anh — ngôn ngữ của nữ gia sư đầu tiên của tôi ở St. Petersburg, hồi năm 1903, bà Rachel Home. Nàng nymphet, giờ đây mang chút dòng máu Ai-Len, thực tế vẫn là cô thiếu nữ y như thế, và ý tưởng căn bản về tình-con-duyên-mẹ cũng vẫn tiếp tục tồn tại; song về mặt khác thì câu chuyện rất mới mẻ và kín đáo mọc dần các vuốt và cánh của tiểu thuyết.

Cuốn sách tiến triển chậm, với nhiều gián đoạn và những chỗ lạc đề. Tôi mất độ bốn chục năm để thêu dệt nên nước Nga và Tây Âu, và giờ đây tôi đối mặt với nhiệm vụ thêu dệt nước Mỹ. Việc thu thập những nguyên liệu địa phương thuộc loại sẽ cho phép tôi rưới thêm đôi chút “thực tế” (một trong vài từ sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu thiếu các dấu ngoặc kép) trung bình vào mẻ rượu của trí tưởng tượng cá nhân, ở tuổi năm mươi, hóa ra là một quá trình khó hơn nhiều so với nó đã từng diễn ra ở châu Âu vào thời trai trẻ của tôi khi năng lực cảm thụ và khả năng ghi nhớ đương ở đỉnh cao tất yếu. Những cuốn sách khác xen ngang. Một đôi lần, tôi đã định đốt tập bản thảo dở dang và đã mang Juanita Dark của tôi xa tới tận chiếc bóng của cái lò đốt rác đứng xiêu vẹo trên thảm cỏ trinh trắng, thì lúc đó tôi bị chặn lại bởi ý nghĩ rằng oan hồn cuốn sách bị thiêu hủy sẽ ám các tài liệu của tôi cho đến khi tôi chết.

Mùa hè nào vợ tôi và tôi cũng đi săn bắt bướm. Các mẫu vật được ký thác vào các cơ quan khoa học, giả dụ như Bảo Tàng Động Vật Học Đối Sánh ở Harvard hay bộ sưu tầm của Đại Học Cornell. Các nhãn ghi nơi tìm thấy mẫu vật được ghim dưới những con bướm này sẽ rất hữu ích cho học giả nào đó ở thế kỷ hai mươi mốt có sở thích với tiểu sử bí hiểm. Tại các tổng hành dinh của chúng tôi như Telluride, bang Colorado; Afton, bang Wyoming; Portal, bang Arizona; và Ashland, bang Oregon, cuốn Lolita ấy lại được tôi hăng say viết tiếp vào những chiều muộn hoặc những ngày nhiều mây. Tôi kết thúc việc chép bản thảo qua chữ viết thường vào mùa xuân năm 1954, vợ tôi gõ lại nó thành ba bản bằng máy đánh chữ, và ngay sau đó tôi bắt đầu tìm kiếm nhà xuất bản.

Lúc đầu, theo tư vấn của một ông bạn cũ cẩn thận, tôi đã nhún nhường đến mức đặt điều kiện xuất bản cuốn sách dưới bút danh khác. Tôi không biết mình sẽ có lúc nào đó thấy ân hận là ít lâu sau, do hiểu rõ rằng cái mặt nạ có thể dễ dàng để lộ nguyên cớ của chính tôi như thế nào, tôi lại quyết định ký tên thật cho Lolita. Bốn nhà xuất bản Mỹ — W, X, Y, Z — lần lượt được tôi chào bản đánh máy và đưa cho những người biên tập của họ liếc qua nó, đã bị sốc do Lolita đến mức mà thậm chí ngài F.P., ông bạn cũ cẩn thận của tôi, cũng không tính đến.

Mặc dù đúng là ở Âu Châu cổ đại, và tận cho đến thế kỷ mười tám (những ví dụ dễ thấy đến từ nước Pháp), sự dâm tục cố ý đã không mâu thuẫn với những giây phút lóe sáng trong hài kịch, hoặc văn chương châm biếm đầy khí lực, hoặc thậm chí cảm hứng của một thi sỹ tài hoa trong tâm trạng phóng đãng, và cũng đúng là trong thời hiện đại thì thuật ngữ “văn hóa phẩm khiêu dâm” có nghĩa là tầm thường, hám lợi, với những quy tắc kể chuyện chặt chẽ nhất định. Hành động khiêu dâm cần cho bắt cặp với lời lẽ sáo rỗng bởi lẽ mọi kiểu tận hưởng khoái cảm mỹ học phải bị thay thế trọn vẹn bởi sự kích dục đơn giản, thứ đòi hỏi lời lẽ truyền thống để tác động trực tiếp lên bệnh nhân. Người sáng tác văn hóa phẩm khiêu dâm phải tuân thủ các quy tắc cứng nhắc cũ kỹ để làm cho bệnh nhân của anh ta được bao bọc bởi cùng một bầu không khí thỏa mãn an toàn, bầu không khí vốn dĩ quen thuộc với những người hâm mộ truyện trinh thám — những truyện mà trong đó, nếu bạn không coi chừng, kẻ sát nhân thật sự có thể lại thành ra là, trước sự phẫn uất của người hâm mộ, tính độc đáo nghệ thuật (ai mà lại muốn, tỷ như, một truyện trinh thám chẳng có đến dù chỉ một cuộc đối thoại?) Bởi vậy, trong các tiểu thuyết khiêu dâm, hành động phải bị giới hạn trong sự giao cấu giữa những lời khuôn sáo. Phong cách, cấu trúc, tính hình tượng không khi nào được phép làm sao lãng độc giả khỏi thú tính đầm ấm của anh ta. Cuốn tiểu thuyết phải bao gồm sự thay thế luân phiên những cảnh nhục dục. Các đoạn văn ở giữa phải được rút lại thành những đường khâu cảm xúc, những cầu nối hợp lý có thiết kế tối giản, những giải thích và trình bày vắn tắt, mà độc giả hầu như chắc chắn sẽ bỏ qua nhưng phải được biết là chúng có tồn tại để không cảm thấy bị lừa dối (do bị nhồi sọ từ lề thói của các chuyện thần tiên “có thật” ở thời thơ ấu). Hơn nữa, những cảnh nhục dục trong cuốn sách phải bám theo một mạch tăng dần, với những biến thể mới, những phối hợp mới, những sinh thực khí mới, cùng sự gia tăng đều đặn số lượng người tham gia (trong một vở kịch của Sade, họ còn gọi cả gã làm vườn vô), và bởi vậy mà phần kết thúc cuốn sách phải thừa mứa tri thức dâm dật hơn hẳn mấy chương đầu.

Vài kỹ thuật ở phần đầu Lolita (giả dụ như Nhật Ký của Humbert) làm cho một số người trong số các độc giả đầu tiên của tôi tưởng lầm rằng đây là một thứ dâm thư. Họ trông chờ vào chuỗi gia tăng các cảnh gợi tình; khi những cái này ngưng lại, độc giả cũng ngưng đọc luôn, và cảm thấy buồn chán và thất vọng. Tôi ngờ rằng điều này là một trong những lý do tại sao không phải cả bốn hãng chịu đọc bản đánh máy ấy đến cuối. Dù họ có nhận thấy nó khiêu dâm hay không thì điều đó cũng chẳng làm tôi quan tâm. Sự khước từ của họ với việc mua sách không dựa trên cách tôi xử lý chủ đề mà dựa trên chính chủ đề, bởi có đến ít nhất là ba chủ đề tuyệt đối cấm kỵ, đến mức hầu hết các nhà xuất bản Mỹ đều lo ngại. Hai cái kia là: một cuộc hôn nhân Nhọ-Trắng thành công trọn vẹn và mỹ mãn đã đơm hoa kết trái thành con đàn cháu đống; và kẻ vô thần tuyệt đối được sống trọn đời sung sướng và có ích, rồi chết trong lúc đang ngủ, thọ 106 tuổi.

Vài phản ứng hết sức tức cười: một người biên tập gợi ý là hãng của anh ấy có thể cân nhắc chuyện xuất bản nếu như tôi biến nàng Lolita của tôi thành cậu bé tuổi mười hai và để cậu ta bị dụ bởi Humbert, một gã nông dân, trong chuồng gia súc, giữa phong cảnh thê lương và cằn cỗi, mọi điều này được trình bày bằng các câu văn ngắn, mạnh, “hiện thực” (“Hắn cư xử điên khùng. Tôi nghĩ là chúng ta ai cũng cư xử điên khùng. Tôi nghĩ Chúa cũng cư xử điên khùng.” Và những thứ tương tự như vậy.) Mặc dù mọi người chắc đã biết là tôi ghét cay ghét đắng các biểu tượng và phúng dụ (một phần do mối thù cũ của tôi với tà phép của Freud và một phần do nỗi kinh tởm của tôi với sự khái quát được sáng chế bởi những người sáng tác văn chương thần thoại và những nhà xã hội học), thế nhưng một người biên tập lẽ ra rất sáng dạ đã đọc lướt qua Phần Một rồi miêu tả Lolita như “Âu Châu già dắt nước Mỹ trẻ vào đời trụy lạc,” trong lúc một tên ba chớp ba nháng khác lại trông thấy trong nó “nước Mỹ trẻ dắt Âu Châu già vào đời trụy lạc.” Chủ nhà xuất bản X, người có các vị cố vấn chán Humbert đến mức họ chưa hề đọc được quá nửa cuốn sách, đã hồn nhiên biên cho tôi là Phần Hai dài quá. Mặt khác, chủ nhà xuất bản Y lại lấy làm tiếc, rằng chẳng có ai tử tế trong cuốn sách. Chủ nhà xuất bản Z bảo, nếu ông ta in Lolita, chắc ông ta với tôi sẽ vào tù.

Không có nhà văn nào ở một quốc gia tự do lại cho rằng họ phải quan tâm đến ranh giới chính xác giữa gợi cảm và gợi dục; đó là điều hết sức vô lý; tôi chỉ có thể ngưỡng mộ chứ không thể tranh đua về độ chính xác trong cách nhìn của những người tạo dáng các động vật hữu nhũ trẻ đẹp để chụp ảnh đăng lên tạp chí sao cho toàn bộ đường viền cổ áo chỉ vừa đủ thấp để khơi gợi một tiếng cười thầm của tay bưởng trưởng và vừa đủ cao để không làm ông bưu cục trưởng phải nhăn mặt. Tôi cho là, vẫn tồn tại những độc giả thấy hưng phấn với sự hiện diện các lời lẽ chợ búa trong các tiểu thuyết khổng lồ và sáo rỗng đến tuyệt vọng, những thứ được đánh máy bằng ngón tay cái của những kẻ tầm thường cương cứng và được đánh giá là “có ảnh hưởng lớn” và “nổi bật” bởi bọn phê bình bồi bút. Có những linh hồn lịch thiệp tuyên bố Lolita vô nghĩa do nó chẳng dạy họ được bất cứ điều gì. Tôi không phải độc giả mà cũng không phải nhà văn thể loại văn chương hư cấu ra vẻ mô phạm, và, bất chấp xác nhận của John Ray, Lolita chẳng có bài học nào đi cùng. Với tôi thì một tác phẩm hư cấu chỉ tồn tại trong chừng mực nó cho tôi cái mà tôi sẽ gọi huỵch toẹt ra là khoái cảm thẩm mỹ, đó là cảm giác được — bằng cách nào đó, ở nơi nào đó — kết nối với những trạng thái khác của sự tồn tại, nơi nghệ thuật (tính hiếu kỳ, sự dịu dàng, lòng nhân hậu, niềm hoan lạc) là tiêu chuẩn. Không có nhiều cuốn sách như vậy. Tất cả những cuốn còn lại hoặc là lá cải thời thượng hoặc là những thứ vẫn được vài người cho là Văn Chương Ý Tưởng, những thứ mà trong rất nhiều trường hợp lại chính là lá cải thời thượng cô lại thành các khối thạch cao khổng lồ được truyền cẩn thận từ đời này qua đời khác cho tới khi có người nào đó xông lên với cây búa và thử làm một choác ra trò lên Balzac, lên Gorki, lên Mann.

Lời cáo buộc khác mà vài độc giả áp đặt lên Lolita là nó chống Mỹ. Đây là cái làm tôi đau hơn nhiều so với lời buộc tội ngu ngốc về sự đồi bại. Những cân nhắc về độ sâu và viễn cảnh (một thảm cỏ ngoại thành, một thảo nguyên vùng núi) khiến cho tôi dựng được một số bối cảnh Bắc Mỹ. Tôi cần một môi trường tạo được sự phấn khích nhất định. Và chẳng có gì tạo được sự phấn khích nhiều hơn thói thô bỉ phàm tục. Nhưng, liên quan đến thói thô bỉ phàm tục thì không có sự khác biệt căn bản nào giữa phong tục tập quán của Cựu Thế Giới và Tân Thế Giới. Bất cứ người vô sản nào từ Chicago cũng có thể thành nhà tư sản (theo nghĩa của Flaubert), y như một công tước Anh. Tôi lựa chọn motel Mỹ thay vì khách sạn Thụy Sỹ hoặc nhà trọ Anh chỉ vì tôi cố gắng trở thành một nhà văn Mỹ và chỉ đòi hỏi đúng những quyền lợi mà các nhà văn Mỹ khác vẫn được hưởng. Mặt khác, tạo vật Humbert của tôi là người nước ngoài và kẻ vô chính phủ, và có rất nhiều thứ, ngoài vấn đề nymphet, mà tôi không đồng ý với ông ta. Và mọi độc giả Nga của tôi đều biết rằng các cựu thế giới của tôi — Nga, Anh, Đức, Pháp — cũng kỳ quái và chủ quan hệt như tân thế giới của tôi.

Vì sợ rằng tuyên bố ngắn ngủn mà tôi đưa ra ở đây có vẻ như sự giãi bày những nỗi hận lòng nào đó, nên tôi buộc phải vội vã bổ sung rằng, ngoài những thằng chã đọc bản đánh máy Lolita hoặc ấn bản Olympia Press của nó theo tinh thần “Sao ông ấy lại phải viết nó nhỉ?” hay “Sao tôi nên đọc về bọn điên này nhỉ?” thì vẫn có không ít người, khôn ngoan, nhạy cảm, vững vàng, hiểu sách tôi tốt hơn nhiều so với tôi có thể giải thích cơ chế nội tại của nó tại đây.

Tôi dám nói rằng, mọi nhà văn nghiêm túc đều nhận thức về ấn bản sách này hay ấn bản sách khác của ông ta như một sự hiện diện ấm lòng thường trực. Ánh sáng dẫn đường của nó cháy đều ở nơi nào đó trong tầng hầm và chỉ một đụng chạm khẽ khàng nhất tác động lên bộ ổn nhiệt bí mật của ông ta sẽ lập tức làm ngấm ngầm bùng lên làn hơi ấm quen thuộc. Sự hiện diện này, ánh sáng rực rỡ này của cuốn sách, ở một chốn xa xôi bất cứ lúc nào cũng đến được, là cảm giác vô cùng thân thiết, và cuốn sách càng trùng khớp chính xác hơn với sắc màu và đường viền được mường tượng trước của nó thì nó càng tỏa sáng rộng hơn và đều hơn. Nhưng thậm chí như vậy, thì vẫn có những nơi chốn nhất định, những con đường phụ, những thung lũng ưa thích, những nơi tác giả gợi nhớ lại một cách thiết tha hơn và thưởng thức một cách dịu dàng hơn phần còn lại trong cuốn sách của ông ta. Tôi không đọc lại Lolita từ khi tôi sửa chữa xong bản in thử vào mùa xuân năm 1955, nhưng giờ đây tôi thấy nó vẫn là một hiện diện dễ chịu như thể nó lặng lẽ lơ lửng quanh nhà tựa một ngày mùa hạ mà người ta biết chắc là ngời sáng sau sương mù. Vậy nên những khi tôi nghĩ về Lolita, dường như tôi luôn lựa được cho khoái cảm đặc biệt của mình những hình ảnh thí dụ như ngài Taxovich, hoặc tờ danh sách lớp của trường trung học Ramsdale ấy, hoặc Charlotte đang nói “không thấm nước,” hoặc Lolita, như trong những thước phim quay chậm, đang tiến về hướng các tặng phẩm của Humbert, hoặc những bức ảnh trang hoàng tầng áp mái được cách điệu hóa của Gaston Godin, hoặc ông thợ cắt tóc ở Kasbeam (người làm tôi tốn mất một tháng làm việc), hoặc Lolita đang chơi tennis, hoặc bệnh viện tại Elphinstone, hoặc Dolly Schiller nhợt nhạt, mang thai, đáng yêu, bất khả vãn hồi, đang hấp hối ở Gray Star (thủ đô cuốn sách), hoặc những tiếng leng keng từ thị trấn dưới thung lũng vọng lên con đường đèo (mà trên đó tôi đã bắt được con bướm cái đầu tiên thuộc giống Lycaeides sublivens Nabokov). Đây là hệ thần kinh của tiểu thuyết. Đây là các điểm bí mật, các tọa độ trong tiềm thức mà dựa trên chúng cuốn sách này đã được đồ nên — dẫu tôi nhận thức được rất rõ ràng rằng những cảnh này cảnh khác sẽ bị đọc lướt qua hoặc không để ý đến, hoặc thậm chí chẳng bao giờ được đụng đến, bởi những kẻ bắt đầu đọc cuốn sách dưới ấn tượng rằng nó là cái gì đó từa tựa như “Hồi Ký của một Kỹ Nữ” hoặc “Les Amours de Milord Grosvit.” Việc cuốn tiểu thuyết của tôi có hàm chứa nhiều ám chỉ khác nhau đến ham muốn sinh lý của một gã đồi trụy là hoàn toàn chính xác. Nhưng rốt cuộc thì tất cả chúng ta không phải trẻ con, không phải các phạm nhân thất học vị thành niên, không phải các nam sinh trường nội trú Anh Quốc, những kẻ sau một đêm buông thả đồng tính lại phải chịu đựng cảnh ngược đời là đọc các tác giả cổ điển trong những phiên bản đã bị sàng lọc.

Thật trẻ con nếu nghiên cứu một tác phẩm hư cấu để thu lượm tin tức về một quốc gia hoặc về một tầng lớp xã hội hoặc về tác giả. Tuy nhiên, một trong số rất ít bạn thân của tôi, sau khi đọc Lolita, đã tỏ ra lo lắng một cách chân thành rằng tôi (tôi!) đã phải sống “giữa những kẻ chán ngấy như vậy” — trong khi sự bất tiện duy nhất mà tôi thật sự phải trải qua là sống tại xưởng của mình giữa những cái chân cái tay bị vứt bỏ và phần thân dang dở.

Sau khi Olympia Press, ở Paris, xuất bản cuốn sách, một nhà phê bình Mỹ đưa ra giả thuyết rằng Lolita là hồ sơ về chuyện tình của tôi với truyện tình. Việc thay “Anh ngữ” vào chỗ “truyện tình” sẽ làm cho công thức tao nhã này đúng hơn. Nhưng ở chỗ này, tôi thấy giọng mình đã lên tới cao độ quá mức ghê tai. Chẳng ai trong số những người bạn Mỹ của tôi từng đọc các cuốn sách tiếng Nga của tôi và vì vậy mọi đánh giá về sức mạnh trong các cuốn tiếng Anh của tôi sẽ không thể minh bạch. Bi kịch cá nhân của tôi, cái không thể, và quả thật không nên, trở thành mối quan tâm của bất cứ ai, là việc tôi phải từ bỏ tiếng Nga, đặc ngữ tự nhiên, không bị hạn chế, giàu có, và vô cùng dễ sai khiến của tôi để dùng thứ tiếng Anh hạng hai, thiếu vắng mọi món đạo cụ — gương ngăn, phông màn nhung đen, truyền thống và các liên tưởng ngầm định — mà ảo thuật gia bản xứ, vạt áo đuôi tôm tung bay, có thể dùng một cách diệu kỳ để vượt qua được di sản cha ông theo lối của mình.

12 tháng Mười Một năm 1956





4 January 2014

Về việc làm ebook từ trang web.

Mấy hôm nay, có một số bạn hỏi ý tôi để lấy dữ liệu trên trang lolita về làm ebook, nên tôi đề nghị thế này: hiện nay tôi đã dịch xong nhưng phải biên tập lại từ đầu, nên chắc chắn là sẽ có nhiều sửa đổi, để tránh việc có nhiều phiên bản Lolita tiếng Việt khác nhau thì hãy để tôi biên tập xong và đưa file dạng pdf, prc lên trang blog (hoặc ở đây). Tôi chắc chắn sẽ không lấy một xu nào từ bản dịch Lolita của tôi, và tôi sẽ làm những gì tôi hứa, nên các bạn cho tôi thêm một thời gian ngắn nữa. Xin cảm ơn.

19 December 2013

Một Vài Hình Ảnh Về Monaco

Theo chương 1, phần I của Lolita, nhiều người đoán rằng khách sạn Mirana của cha Humbert nằm ở Monaco.

Did she have a precursor? She did, indeed she did. In point of fact, there might have been no Lolita at all had I not loved, one summer, a certain initial girl-child. In a princedom by the sea. Oh when? About as many years before Lolita was born as my age was that summer. You can always count on a murderer for a fancy prose style.


Lolita Bản Dịch Tiếng Việt

Monaco, tên chính thức là Công quốc Monaco (tiếng Pháp: Principauté de Monaco; Monégasque: Principatu de Múnegu; tiếng Ý: Principato di Monaco; tiếng Occitan: Principat de Mónegue), là một quốc gia-thành phố có chủ quyền tại châu Âu. Monaco có ba mặt tiếp giáp với nước Pháp và mặt còn lại giáp với Địa Trung Hải và trung tâm của công quốc cách nước Ý khoảng 16 km (9,9 dặm). Diện tích của Monaco là 1,98 km² (0,76 mi²) và dân số năm 2011 là 35.986 người. Monaco là nước có GDP trên danh nghĩa cao nhất thế giới: bình quân đầu người là 215.163 Đô la Mỹ và là quốc gia có mật độ dân cư cao nhất trên thế giới. Monaco cũng có tuổi thọ cao nhất thế giới với con số 90, và là nước có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất. Sau những lần lấn biển gần đây, tổng diện tích của Monaco là 2,05 km² (0,79 mi²).

Lolita Bản Dịch Tiếng Việt

Lolita Bản Dịch Tiếng Việt

13 December 2013

Постскриптум к русскому изданию


Научная добросовестность побудила меня сохранить в русском тексте последний параграф вышеприведѐнного американского послесловия, несмотря на то, что он может только ввести в заблуждение русского читателя, не помнящего, или не понимавшего, или вообще никогда не читавшего книг “В. Сирина”, которые выходили заграницей в двадцатых и тридцатых годах. Американскому читателю я так страстно твержу о превосходстве моего русского слога над моим слогом английским, что иной славист может и впрямь подумать, что мой перевод “Лолиты” во сто раз лучше оригинала. Меня же только мутит ныне от дребезжания моих ржавых русских струн. История этого перевода — история разочарования. Увы, тот “дивный русский язык”, который, сдавалось мне, всѐ ждѐт меня где-то, цветѐт, как верная весна за наглухо запертыми воротами, от которых столько лет хранился у меня ключ, оказался несуществующим, и за воротами нет ничего, кроме обугленных пней и осенней безнадѐжной дали, а ключ в руке скорее похож на отмычку.

Утешаюсь, во-первых, тем, что в неуклюжести предлагаемого перевода повинен не только отвыкнувший от родной речи переводчик, но и дух языка, на который перевод делается. За полгода работы над русской “Лолитой” я не только убедился в пропаже многих личных безделушек и невосстановимых языковых навыков и сокровищ, но пришѐл и к некоторым общим заключениям по поводу взаимной переводимости двух изумительных языков.

Телодвижения, ужимки, ландшафты, томление деревьев, запахи, дожди, тающие и переливчатые оттенки природы, всѐ нежно-человеческое (как ни странно!), а также всѐ мужицкое, грубое, сочно-похабное, выходит по-русски не хуже, если не лучше, чем по-английски; но столь свойственные английскому тонкие недоговорѐнности, поэзия мысли, мгновенная перекличка между отвлеченнейшими понятиями, роение односложных эпитетов — всѐ это, а также всѐ относящееся к технике, модам, спорту, естественным наукам и противоестественным страстям — становится по-русски топорным, многословным и часто отвратительным в смысле стиля и ритма. Эта неувязка отражает основную разницу в историческом плане между зелѐным русским литературным языком и зрелым, как лопающаяся по швам смоква, языком английским: между гениальным, но ещѐ недостаточно образованным, а иногда довольно безвкусным юношей, и маститым гением, соединяющим в себе запасы пѐстрого знания с полной свободой духа. Свобода духа! Всѐ дыхание человечества в этом сочетании слов.

Библиографические сведения, приведѐнные в послесловии к американскому изданию (Путнам, 1958), можно теперь пополнить. Первое издание с обильными опечатками, вышедшее в двух томиках в Париже (Олимпия Пресс, 1955), покупалось довольно вяло американскими туристами, пока не попалось на глаза Грэхаму Грину, отозвавшемуся о книге с похвалой в одной лондонской газете. На него и на “Лолиту” обрушился в другой лондонской газете реакционный фельетонист, некто Джон Гордон, и его-то добродетельный ужас привлѐк к “Лолите” всеобщее внимание. Что же касается еѐ судьбы в Соединѐнных Штатах, то следует отметить, что она там никогда не была запрещена (как до сих пор запрещена в некоторых странах). Первые экземпляры парижского издания “Лолиты”, выписанные частными лицами, были задержаны и прочтены на американской таможне, но неизвестный друг-читатель, служивший там, признал мою “Лолиту” легальной литературой, и экземпляры были отправлены по адресам. Это разрешило сомнения осторожных американских издателей, и я уже мог выбирать между ними наиболее мне подходящего. Успех путнамского издания (1958) превзошѐл, как говорится, все ожидания. Парадоксальным образом, однако, первое английское издание, вышедшее в Париже ещѐ в 1955 году, вдруг оказалось под запретом. Я часто спрашиваю себя, как поступил бы я в те дни, когда начались переговоры с “Олимпия Пресс”, если бы мне тогда стало известно, что наряду с печатанием талантливых, хотя и вольных, произведений главный свой доход издатель получал от им заказываемых продажным ничтожествам пошлых книжонок совершенно того же сорта, как предлагаемые на тѐмных углах снимки монашки с сенбернаром или матроса с матросом. Как бы то ни было, английские таможенники давно уже отнимали, в суровом и трезвом тумане возвращений с каникул, эту порнографическую дрянь — в таких же травянистого цвета обложках, как моя “Лолита”. Теперь же английский министр внутренних дел попросил своего французского коллегу, столь же невежественного, сколь услужливого, запретить в продаже весь список изданий “Олимпии”, и в течение некоторого времени “Лолита” в Париже разделяла судьбу заборных изданий “Олимпии”.

Между тем нашѐлся лондонский издатель, пожелавший напечатать еѐ. Дело совпало с обсуждением нового закона о цензуре (1958—59 г.) причѐм “Лолита” служила аргументом и для либералов и для консерваторов. Парламент выписал из Америки некоторое количество экземпляров, и члены ознакомились с книгой. Закон был принят, и “Лолита” вышла в Лондоне, в издательстве Вайденфельда и Никольсона, в 1959-ом году. Одновременно Галлимар в Париже подготовил еѐ издание на французском языке, — и незадачливое первое английское издание “Олимпия Пресс”, деловито и возмущѐнно оправляясь, опять появилось в киосках.

С тех пор “Лолита” переводилась на многие языки: она вышла отдельными изданиями в арабских странах, Аргентине, Бразилии, Германии, Голландии, Греции, Дании, Израиле, Индии, Италии, Китае, Мексике, Норвегии, Турции, Уругвае, Финляндии, Франции, Швеции и Японии. Продажу еѐ только что разрешили в Австралии, но она всѐ ещѐ запрещена в Испании и Южно-Африканской Республике. Не появилась она и в пуританских странах за железным занавесом. Из всех этих переводов я отвечаю, в смысле точности и полноты, только за французский, который я сам проверил до напечатания. Воображаю, что сделали с бедняжкой египтяне и китайцы, а ещѐ яснее воображаю, что сделала бы с ней, если бы я допустил это, “перемещѐнная дама”, недавно научившаяся английскому языку, или американец, который “брал” русский язык в университете. Вопрос же — для кого, собственно, “Лолита” переводится — относится к области метафизики и юмора. Мне трудно представить себе режим, либеральный ли или тоталитарный, в чопорной моей отчизне, при котором цензура пропустила бы “Лолиту”. Кстати, не знаю, кого сейчас особенно чтят в России — кажется, Гемингвея, современного заместителя Майн-Рида, да ничтожных Фолкнера и Сартра, этих баловней западной буржуазии. Зарубежные же русские запоем читают советские романы, увлекаясь картонными тихими донцами на картонных же хвостах-подставках или тем лирическим доктором с лубочно-мистическими позывами, мещанскими оборотами речи и чаровницей из Чарской, который принѐс советскому правительству столько добротной иностранной валюты.

Издавая “Лолиту” по-русски, я преследую очень простую цель: хочу, чтобы моя лучшая английская книга — или, скажем ещѐ скромнее, одна из лучших моих английских книг — была правильно переведена на мой родной язык. Это — прихоть библиофила, не более. Как писатель, я слишком привык к тому, что вот уже скоро полвека чернеет слепое пятно на востоке моего сознания — какие уж тут советские издания “Лолиты”! Как переводчик я не тщеславен, равнодушен к поправкам знатоков и лишь тем горжусь, что железной рукой сдерживал демонов, подбивавших на пропуски и дополнения. Как читатель я умею размножаться бесконечно и легко могу набить огромный отзывчивый зал своими двойниками, представителями, статистами и теми наѐмными господами, которые, ни секунды не колеблясь, выходят на сцену из разных рядов, как только волшебник предлагает публике убедиться в отсутствии обмана. Но что мне сказать насчѐт других, нормальных читателей? В моѐм магическом кристалле играют радуги, косо отражаются мои очки, намечается миниатюрная иллюминация — но он мало кого мне показывает: несколько старых друзей, группу эмигрантов (в общем предпочитающих Лескова), гастролѐра-поэта из советской страны, гримѐра путешествующей группы, трѐх польских или сербских делегатов в многозеркальном кафе, а совсем в глубине — начало смутного движения, признаки энтузиазма, приближающиеся фигуры молодых людей, размахивающих руками... но это просто меня просят посторониться — сейчас будут снимать приезд какого-то президента в Москву.

Владимир Набоков
7-го ноября 1965 г.
Палермо

9 December 2013

Tranh Vẽ Bò Rừng Trong Hang Đá Thời Tiền Sử

Lolita Bản Dịch Tiếng Việt

Bản dịch Lolita


Lolita Bản Dịch Tiếng Việt

Lolita Bản Dịch Tiếng Việt


And do not pity C. Q. One had to choose between him and H. H., and one wanted H. H. to exist at least a couple of months longer, so as to have him make you live in the minds of later generations. I am thinking of aurochs and angels, the secret of durable pigments, prophetic sonnets, the refuge of art. And this is the only immortality you and I may share, my Lolita.

5 December 2013

Old Faithful

Bản dịch Lolita Tiếng Việt

Bản dịch Lolita tiếng Việt

Old Faithful là một mạch nước phun (Geyser) trong công viên quốc gia Yellowstone bang Wyoming. Đây là mạch nước phun đầu tiên được đoàn thám hiểm Washburn đặt tên vào năm 1870. Mạch nước phun Old Faithful và khách sạn Old Faithful Inn là một phần của Khu Lịch sử Old Faithful. Mỗi lần phun nước, Old Faithful phun từ 14,000 đến 32,000 lít nước sôi lên chiều cao từ 32 đến 56 thước trong khoảng thời gian từ 1.5 đến 5 phút. Từ ngày người ta bắt đầu ghi chép những lần phun đến nay, Old Faithful đã phun khoảng 137,000 lần.

3 December 2013

Niên Biểu Lolita





1910

Trong nửa năm đầu – "Humbert Humbert" ra đời ở Paris, Pháp.

Vài tháng sau đó, Annabel Leigh ra đời.

Humbert lớn lên tại khách sạn Mirana của cha mình tại vùng Riviera thuộc Pháp. Có lẽ khách sạn này nằm trong Monaco, do Nabokov viết ngay tại chương 1 phần I rằng nó nằm "In a princedom by the sea" (tại một công quốc bên bờ biển). Tuy nhiên, câu văn này lấy cảm hứng từ bài thơ Annabel Lee của Edgar Poe, nên không thật sự rõ ý của Nabokov về nơi diễn ra tình yêu đầu tiên của Humbert với Annabel.

1911

Clare Quilty ra đời tại Ocean City, New Jersey.

1913

Mẹ của Humbert chết vì sét đánh trong một buổi đi dã ngoại gần Moulinet, Alpes-Maritimes. Từ đó trở đi, bác Sybil và cha của Humbert chăm sóc ông ta. Sybil là chị của mẹ Humbert và từng kết hôn với  Gustave Trapp – anh em con chú con bác của cha Humbert.

1919

Tháng Sáu: Có những con chim bay lạc vào phòng của Humbert và Annabel, dù cả hai đang ở cách xa nhau.

1923

Vào dịp nghỉ hè (Tháng Bẩy – Tháng Tám), Humbert và Annabel Leigh gặp và yêu nhau tại Riviera. Cô bé là con gái của một cặp vợ chồng người Anh đi nghỉ và thuê biệt thự gần khách sạn Mirana.

Tháng Mười Hai – Annabel chết tại đảo Corfu, Hy Lạp.

1926

Bác Sybil chết, đúng như bác đã tiên đoán.

Humbert bắt đầu đi học đại học, đầu tiên ở Paris, sau đó chuyển qua London.

1934

Tháng Tư – Tuần trăng mật của Charlotte Becker và Harold E. Haze tại Veracruz, Mexico; Lolita được thụ thai trong thời gian này.

1935

Ngày 1 Tháng Một – Dolores Haze ra đời ở Pisky, Midwest (Central Illinois?).

Humbert gặp và làm tình với Monique, một cô gái điểm trẻ ở Paris, sau đó cưới Valeria Zborovsky, con gái của một bác sỹ người Ba Lan.

1937

Em trai Lolita ra đời.

1939

Em trai Lolita chết.

Ông chú Gustave Trapp của Humbert chết tại Mỹ, và hứa sẽ cho Humbert khoảng vài ngàn đô la hàng năm nếu chuyển qua Mỹ sống và chăm lo cho di sản của ông ta. Nhưng vợ Humbert ngoại tình và không muốn đi cùng Humbert qua Mỹ.

1940

Mùa đông – Chiến tranh thế giới lần thứ hai bắt đầu, vụ li dị trì hoãn chuyến hải hành qua Mỹ của Humbert, và ông phải qua một mùa đông ở Bồ Đào Nha.

1943

Humbert trải qua hơn một năm điều trị bệnh tâm thần trong bệnh viện, quay lại làm việc, rồi lại nhập viện lần nữa.

1944

Mùa hè – Lolita được bà cô Phalen kèm cặp.

1944-46

Humbert tham gia vào đoàn thám hiểm vùng Cực Bắc Canada trong hai mươi tháng.

1945

Gia đình nhà Haze chuyển từ Pisky (Midwest) đến Ramsdale (New England).

"Khoảng năm 1945" Valeria Maximovich, vợ cũ của Humbert, chết trong khi sinh đẻ tại California.

1946-47

Sau khi đi thám hiểm về, Humbert lại tái phát bệnh điên và phải nhập viện lần nữa.

1947

Mùa Xuân – Humbert xuất viện và tìm một nơi yên tĩnh để nghỉ ngơi và đọc sách trong mùa hè.

Cuối tháng Năm – Humbert chuyển đến Ramsdale, New England, nhưng vì nhà của ông McCoo bị cháy nên Humbert chuyển qua trọ tại nhà bà Charlotte Haze, khi đến xem nhà (số 342), Humbert gặp Lolita và quyết định ở lại. Khi đó ông đã 37 tuổi, còn Lolita mới 12 tuổi 5 tháng.

Thứ Sáu, 30 Tháng Năm: Ngày Ăn Chay ở bang New Hampshire. Vài ngày trước đó, Humbert đã chuyển đến nhà Haze.

Thứ Năm, 5 Tháng Sáu, đến ngày Thứ Bẩy, 21 Tháng Sáu – Humbert nói rằng cuốn nhật ký của ông có khoảng hai mươi mục và bao trùm gần hết ba tuần trong tháng Sáu, nhưng thực tế nó chỉ có mười bẩy ngày.

Chủ Nhật, 22 Tháng Sáu – Haze vắng nhà, và Humbert và Lolita lần đầu tiên gần gũi nhau trên chiếc sofa, Humbert xuất tinh nhưng Lolita (có lẽ) không biết. Cùng ngày này, Charlotte kể cho Humbert nghe về kế hoạch đưa Lo đến trại Q vào thứ Năm tuần sau.

Thứ Năm, 26 Tháng Sáu – Trước khi đưa con gái đến trại Q, Haze để lại bức thư tỏ tình với Humbert, và ông ta chấp nhận tình yêu đó vì mơ tưởng đến chuyện sẽ có cơ hội gần gũi Lolita.

Thứ Tư, 6 Tháng Tám – Humbert lái xe đi gặp bác sỹ để xin thuốc ngủ. Trong khi ông vắng nhà, Charlotte đọc trộm được cuốn nhật ký. Khi ông về nhà, Charlotte đang viết thư, hai người cãi nhau, Humbert đi vào bếp lấy rượu và nghĩ cách làm lành, vợ ông chạy ra ngoài đi gửi thư và bị xe ô tô đâm chết. Humbert viết rằng hai người chung sống được năm mươi ngày, nhưng thực tế thì họ chỉ chung sống đúng 6 tuần (42 ngày) từ ngày 26 tháng Sáu đến ngày 6 tháng Tám.

Thứ Hai, 11 Tháng Tám – Lolita đi hành quân hai ngày cùng các bạn tại trại Q.

Thứ Năm, 14 Tháng Tám – Humbert lái xe từ Parkington đến Trại Q. Ông bắt đầu khởi hành ngay trước lúc mười hai giờ trưa và đến nơi vào lúc 2h30 chiều. Đón Lolita và rời khỏi Trại Q cùng Lolita vào khoảng 4h chiều. Dự tính sẽ lái xe khoảng 4 tiếng để đến Briceland trước khi trời tối, và ăn tối tại đó. Thực tế thì họ đến nơi lúc đã muộn, và thuê phòng (số 342) tại khách sạn "The Enchanted Hunters". Humbert và Lolita làm tình với nhau lần đầu vào buổi sáng ngày hôm sau ngay tại khách sạn này.

Thứ Sáu, 15 Tháng Tám – Họ rời Briceland đi Lepingville vào buổi sáng, trên đường đi, Humbert cho Lolita biết là mẹ nàng đã chết. Chuyến du hành khắp nước Mỹ của họ bắt đầu từ Lepingville.

1948

Tháng Tám –  Humbert và Lolita đến Beardsley vào cuối tháng Tám, đúng vào năm học mới.

Tháng Mười Hai – (Vào một ngày Thứ Hai) Humbert được bà Pratt mời lên nói chuyện, thuyết phục cho Lolita tham gia đóng kịch ở trường.

1949

Thứ Hai, 27 Tháng Sáu – Humbert và Lolita đến Elphinstone, họ thuê cabin hai phòng tại Silver Spur Court. Lolita bị ốm, và được đưa ngay vào bệnh viện; Humbert đến thăm nàng cả thảy 8 lần.

Chủ Nhật, 3 Tháng Bẩy – Humbert ghé thăm Lolita lần cuối cùng tại bệnh viện. Sau đó ông bị ốm và phải nằm nhà hai hôm. 

Thứ Hai, 4 Tháng Bẩy – Mary Lore (y tá của Lolita) gọi điện hỏi Humbert xem ông có thể đến bệnh viện ngay hôm nay được không. Tuy nhiên, Humbert không đến được, và Lolita rời bệnh viện này cùng với Quilty vào lúc khoảng 2h chiều cùng ngày.   

Thứ Ba, 5 Tháng Bẩy – Humbert gọi điện đến bệnh viện và được biết là trước hôm ấy một ngày, "Ông Gustave, chú của Lolita" đã đưa nàng đi. Humbert lái xe đến bệnh viện, gây sự ở đó, nhưng do trên đường đi ông có đụng nhẹ vào xe người khác, nên bị cảnh sát theo đến bệnh viện, và do đó ông buộc phải đi. Và ngay sau đó, ông rời khỏi Elphinstone.

Từ ngày 5 Tháng Bẩy đến ngày 18 tháng Mười Một – Humbert đi tìm Lolita, vào 342 (!) khách sạn để kiểm tra xem cô bé có đến đó không, và phát hiện ra rằng Lolita đã phản bội ông từ rất lâu rồi. Dường như nàng đã lên kế hoạch cho việc chạy trốn khỏi sự kiểm soát của Humbert.

1950

Ngày 1 Tháng Một – Đúng vào ngày sinh nhật Lolita, Humbert gửi những món đồ của Lolita đến một trại bé gái mồ côi tại vùng biên giới Canadian.

Sau đó không lâu, Humbert lại nhập viện tại Quebec, do không còn khả năng liên hệ với thực tại. Và ông được điều trị tại đó từ tháng Một đến tháng Năm.

Tháng Năm – Humbert làm quen được với Rita, một cô gái ba mươi tuổi, trong quán bar nằm đâu đó giữa Montreal và New York, và sau đó, hai người lại đi chơi với nhau trong thời gian từ mùa hè 1950 đến mùa hè 1952.

1952

Thứ Năm, 18 Tháng Chín – Lolita viết thư cho Humbert.

Thứ Hai, 22 Tháng Chín – Humbert bất ngờ nhận được hai lá thư, một từ John Farlow, luật sư của Haze; và cái thứ hai từ Lolita. Nàng báo cho ông biết là nàng đã lấy chồng (Dick Schiller) và đang có mang, xin Humbert hỗ trợ tài chính để chồng nàng có thể đi nhận việc làm ở Alaska, và cho ông biết nơi nàng đang sống: thị trấn Coalmont. Ngay lập tức, Humbert lái xe 800 dặm từ New York để đến nơi Lolita đang sống.

Thứ Ba, 23 Tháng Chín – Humbert đến Coalmont, sau khi nghỉ tại một khách sạn, ông ghé qua nhà bà Richard F. Schiller's (Lolita) vào khoảng 2h chiều. Humbert nói chuyện với Lolita, biết được tên (Quilty) và gốc gác của tình địch, van nài Lolita đi theo mình nhưng nàng từ chối. Ông chia tay nàng vào lúc khoảng 4h chiều, lái xe về Ramsdale, và bị lạc đường mất mấy tiếng, sau đó mới quay lại được đường chính.

Thứ Tư, 24 Tháng Chín – Humbert quay về Ramsdale vào lúc giữa trưa; thuê khách sạn; thu xếp cuộc hẹn tại văn phòng luật của ông Windmuller và nha sỹ Ivor Quilty; lấy được từ ông này địa chỉ của Clare Quilty: Pavor Manor, Grimm Road, 12 dặm phía Bắc Parkington; lái xe 40 dặm đến Parkington; qua đêm tại Insomnia Lodge (Nhà Trọ Thao Thức).

Thứ Năm, 25 Tháng Chín – Đến Pavor Manor vào lúc khoảng 8h sáng; giết chết Quilty, và sau đó, khi lái xe từ nhà Quilty đi, Humbert bị cảnh sát bắt vì lái xe vào làn đường ngược chiều.

Tháng Chín đến Tháng Mười – Vụ án này được đưa lên báo.

Chủ Nhật, 16 Tháng Mười Một – Humbert chết vì bệnh nghẽn mạch vành trong trại tạm giam.

Thứ Năm, 25 Tháng Mười Hai, Ngày Lễ Giáng Sinh – Lolita chết khi sinh con tại Gray Star, Alaska.