27 September 2012

Poplar (Cây Bạch Dương)


Trong Lolita hay nhắc đến cây bạch dương, đặc biệt các chương 11, 12, 13, 14, 15 khi Humbert ở nhà Haze cùng Lolita. Loại cây này không phổ biến ở Việt Nam, nhưng rất hay thấy ở các nước châu Âu, đặc biệt là Nga. Dưới đây là một số hình ảnh cây bạch dương trong tác phẩm của các họa sỹ nổi tiếng.

Mùa thu vàng (Golden Autumn)
Isaac Levitan
1895
Oil on Canvas, 82x126cm
The Tretyakov Gallery, Moscow, Russia

Poplars at Saint-Remy
Vincent van Gogh
1889
Oil on Canvas, 62x46cm
Cleveland Museum of Art

Poplars in Summer
Claude Monet
1891
Oil on Canvas
National Museum of Western Art, Tokyo, Japan.

15 September 2012

Âm nhạc và thơ ca trong Lolita



Humbert nhiều lần dùng các thuật ngữ âm nhạc để miêu tả dục vọng của mình với Lolita, và một cảnh quan trọng, trong đó cả âm nhạc và thơ ca cùng hòa quyện, là cảnh thủ dâm trên sô pha phòng khách nhà bà Haze (mẹ Lolita), vào một sáng Chủ Nhật nắng ấm, ở chương 13. Rất thú vị, Humbert đã mô tả đoạn văn này như một màn kịch trên sân khấu, một màn trình diễn cho độc giả - những người mà sau đó thậm chí được mời tham gia (("I want my learned readers to participate in the scene I am about to replay"). Quả thực, điểm mấu chốt của màn diễn này chính là việc Humbert làm ra vẻ đang thực hiện một việc gì đó trong khi thực sự thì anh ta lại làm một việc khác hẳn. Âm nhạc giữ vai trò quan trọng trong đoạn văn này:

Main character: Humbert the Hummer. Time: Sunday morning in June. Place: sunlit living room. Props: old, candy-striped davenport, magazines, phonograph, Mexican knickknacks […]. She wore that day a pretty print dress that I had seen on her once before, ample in the skirt, tight in the bodice, short-sleeved, pink, checkered with darker pink, and, to complete the color scheme, she had painted her lips and was holding in her hollowed hands a beautiful, banal, Eden-red apple. She was not shod, however, for church. And her white Sunday purse lay discarded near the phonograph. 

Đáng ngạc nhiên là, mặc dù chiếc máy hát (phonograph) hai lần được nhắc đến trong đoạn văn này, nhưng thực sự thì chẳng có bản nhạc nào vang lên trong màn kịch. Vâng, Nabokov không bao giờ nhắc lại một yếu tố nào mà không có dụng ý. Chiếc máy hát ở đây báo hiệu rằng âm nhạc cần được chú ý đến. Quả thật, những thuật ngữ âm nhạc được nhắc đi nhắc lại suốt trong đoạn văn này. Để khơi gợi các động tác vặn vẹo cơ thể mà anh ta phải nhờ đến để thủ dâm mà không bị phát hiện ra, Humbert giải thích rằng anh ta đã "managed to attune, by a series of stealthy movements, my masked lust to her guileless limbs". Rồi sau đó Humbert tiếp tục giải thích về cách anh ta đã kín đáo thực hiện trò thủ dâm của mình như thế nào. Để che đậy phần nào những nhịp chuyển động của mình, anh ta đã ngâm nga một bài hát thịnh hành thời đó:

Having, in the course of my patter, hit upon something nicely mechanical, I recited, garbling them slightly, the words of a foolish song that was then popular—O my Carmen, my little Carmen, something, something, those something nights, and the stars, and the cars, and the bars, and the barmen; I kept repeating this automatic stuff and holding her under its special spell (spell because of the garbling), and all the while I was mortally afraid that some act of God might interrupt me, might remove the golden load in the sensation of which all my being seemed concentrated, and this anxiety forced me to work, for the first minute or so, more hastily than was consensual with deliberately modulated enjoyment. The stars that sparkled, and the cars that parkled, and the bars, and the barmen, were presently taken over by her; her voice stole and corrected the tune I had been mutilating. She was musical and apple-sweet. Her legs twitched a little as they lay across my live lap; I stroked them; there she lolled in the right-hand corner, almost asprawl, Lola the bobby-soxer, devouring her immemorial fruit, singing through its juice, losing her slipper, rubbing the heel of her slipperless foot in its sloppy anklet, against the pile of old magazines heaped on my left on the sofa—and every movement she made, every shuffle and ripple, helped me to conceal and to improve the secretsystem of tactile correspondence between beast and beauty—between my gagged, bursting beast and the beauty of her dimpled body in its innocent cotton frock. 


Lưu ý đoạn văn đầy nhạc tính, với các khúc ngắt câu dồn dập, hoàn toàn không vô tình, mà thể hiện nhịp điệu các cử động của Humbert trong lúc thủ dâm kín đáo. Từ something trong bài hát, do Humbert cố tình giả vờ quên lời, vừa làm méo mó ca từ nguyên bản, vừa cuốn hút Lolita tham gia vào trò chơi người lớn của Humbert. Something không phải là một từ cấu thành bài hát, mà nó chỉ là một chút ngâm nga mà chúng ta vẫn làm khi vừa hát vừa cố nhớ lại lời bài hát. Chính cái ngâm nga này đã là cái bẫy để Humbert Người lớn lôi kéo Lolita Trẻ con vào cuộc chơi của anh ta.

Nguyên bản bài hát trong chương 13:

O my Carmen, my little Carmen!               
Something, something those something nights,                
And the stars, and the cars, and the bars, and the barmen—               
And, O my charmin’, our dreadful fights. 
And the something town where so gaily, arm in                
Arm, we went, and our final row,                
And the gun I killed you with, O my Carmen,                
The gun I am holding now.



 Bài viết có tham khảo và lược dịch từ "Miranda: Music and Songs in Lolita, novel and film"

11 September 2012

Hoa Thanh Cúc (Cornflower)



Cornflower là một loại cây chưa có tên chính thức trong tiếng Việt, từ điển chỉ nói nó là "một loại cây dại (mọc trong ruộng ngô)"; nhưng rõ ràng là bê nguyên xi như thế qua bản dịch tiếng Việt thì... thà không dịch còn hơn!

Corflower thuộc họ Cúc, có tên khoa học là Centaurea cyanus, ngoài tên cornflower, nó còn được gọi là Bachelors button, Bluebottle, Boutonniere flower, Hurtsickle, Cyani flower. Loài hoa này hay mọc hoang dại trong các ruộng ngô, lúa,... có lẽ vì thế trong tiếng Anh, nó được gọi bằng cái tên dân dã là cornflower. Trong các văn bản tiếng Việt, khi nhắc đến nó người ta dùng rất nhiều tên tự đặt như: hoa ngô, hoa cúc áo, hoa thanh bình. 

Trong bản dịch Lolita, cornflower được dịch thành Thanh Cúc, bắt nguồn từ màu xanh biếc đặc trưng cho hoa của loài cây này, và từ việc nó thuộc họ Cúc.

Thanh Cúc là loài hoa rất được JFK (John F Kennedy yêu thích), là quốc hoa của Estonia từ năm 1968, và là biểu tượng của nhiều đảng phái, tổ chức chính trị khác.

Vài hình ảnh hoa Thanh Cúc:

Lolita: Hoa Thanh Cúc

Lolita: Hoa Thanh Cúc

Lolita: Hoa Thanh Cúc

Lolita: Hoa Thanh Cúc

7 September 2012

Ngôi nhà tuổi thơ Nabokov


Số 47, phố Bolshaya Morskaya Street, thành phố Saint-Petersburg, Liên bang Nga (Санкт-Петербург, Большая Морская улица, дом 47) là địa chỉ quen thuộc với nhiều người hâm mộ Lolita và các tác phẩm khác của nhà văn Nabokov. Hiện nay ngôi nhà tại địa chỉ này này là bảo tàng Nabokov. Nó từng thuộc sở hữu của gia đình nhà văn từ năm 1897. Vladimir Nabokov sinh ra tại ngôi nhà này vào năm 1899 và sống ở đó 18 năm đầu đời. Tháng 11 năm 1917, gia đình ông buộc phải rời bỏ Petrograd (tên hồi đó của thành phố Saint-Peterburg hiện nay). Từ ngày đó cho đến bây giờ, vẻ ngoài của ngôi nhà này hầu như không thay đổi, thậm chí số nhà cũng được giữ nguyên. 

Với Nabokov, đây là căn nhà duy nhất của ông trên toàn thế giới, vì trong cả cuộc đời lưu vong sau này ở châu Âu và Mỹ, ông không bao giờ mua bất cứ một căn nhà nào khác. 


Ngôi nhà của Nabokov ở Saint-Petersburg

Ngôi nhà của Nabokov ở Saint-Petersburg

Ngôi nhà của Nabokov ở Saint-Petersburg

Ngôi nhà của Nabokov ở Saint-Petersburg

3 September 2012

Humbert và Lolita

Lolita và Humbert trong phim Lolita 1997
Lolita và Humbert trong phim Lolita năm 1962



1 September 2012

Con búp bê vải và cuộc nói chuyện ở hàng hiên (chương 11)

Lolita Bản dịch tiếng Việt
Cảnh trong phim Lolita, 1997

Chương 11 có một đoạn tả Humbert, Lolita và Haze ngồi nói chuyện ngoài hàng hiên trong đêm tối:

Thứ Năm. Đêm qua chúng tôi ngồi ngoài hiên, cô Haze, Lolita và tôi. Chiều tàn ấm áp chậm chậm chìm vào bóng tối đắm say. Gái già vừa kể lại cực kỳ tỉ mỉ những tình tiết trong cuốn phim mà thị và L. đã xem hồi mùa đông trước. Chàng võ sỹ quyền anh đang hết sức cùng quẫn lúc chàng gặp thầy tu già tốt bụng (chính ông này từng là võ sỹ trong thời thanh niên trai tráng và vẫn còn có thể đấm gục kẻ phạm tội). Chúng tôi ngồi trên những tấm nệm chất đống trên sàn, L. ngồi giữa gái già và tôi (nàng tự chen vào, mèo con của tôi). Đến lượt mình, tôi bắt đầu bài tường thuật vui nhộn về chuyến phiêu lưu Bắc Cực của mình. Nữ thần sáng tạo dúi vào tay tôi khẩu súng săn và tôi nã đạn vào con gấu trắng làm nó ngồi phịch xuống kêu: Á! Ngay trong lúc ấy tôi cảm nhận sâu sắc là L. đâu đây thôi, lúc tôi vừa luyên thuyên vừa khoa tay múa chân trong bóng tối khoan dung và lợi dụng những cử chỉ không ai thấy được ấy để chạm vào cánh tay nàng, đôi vai nàng và con búp bê vũ nữ ba lê bằng len với vải mỏng trong suốt mà nàng đang nghịch ngợm và cứ cố đặt vào trong lòng tôi; 


Lolita Bản dịch tiếng Việt
Cảnh trong phim Lolita, 1997

Trong phim Lolita năm 1997, cảnh này được quay trên xích đu ngoài vườn. Lolita cũng ngồi giữa Humbert và Haze, cũng nghịch con búp bê,... nhưng có lẽ do quay đêm hơi khó, nên đạo diễn chuyển qua quay ban ngày, và thay vì đống nệm là cái xích đu. 

28 August 2012

Green-Red-Blue

Lolita trong bộ phim cùng tên, năm 1997

Trích đoạn từ chương 11, Lolita. 

Nguyên bản tiếng Anh:

There my beauty lay down on her stomach, showing me, showing the thousand eyes wide open in my eyed blood, her slightly raised shoulder blades, and the bloom along the incurvation of her spine, and the swellings of her tense narrow nates clothed in black, and the seaside of her schoolgirl thighs. Silently, the seventh-grader enjoyed her green-red-blue comics. She was the loveliest nymphet green-red-blue Priap himself could think up. As I looked on, through prismatic layers of light, dry-lipped, focusing my lust and rocking slightly under my newspaper, I felt that my perception of her, if properly concentrated upon, might be sufficient to have me attain a beggar’s bliss immediately;

Bản dịch tiếng Việt: 

Nơi đó người đẹp của tôi nằm sấp, khoe tôi, khoe những con mắt mở to trong dòng máu ngàn mắt của tôi, cặp xương bả vai hơi nhô lên, làn da phấn lượn theo đường cong lưng, độ mẩy đôi mông căng tròn bó chặt trong chiếc quần lót đen, bãi biển bên cặp đùi nữ sinh của nàng. Cô bé lớp bẩy lặng lẽ tận hưởng truyện tranh đỏ-lục-xanh. Nàng là nymphet yêu kiều nhất mà thần Priap đỏ-lục-xanh có thể tự tạo ra trong tâm tưởng. Khi tôi chăm chú theo dõi, qua những lớp ánh sáng nhiều màu, môi khô ran, hội tụ ham muốn của mình và lắc lư nhè nhẹ dưới tờ báo, tôi có cảm giác là tri giác của tôi về nàng, nếu tập trung vào một cách đúng mức, có thể đủ để cho tôi ngay lập tức đạt tới trạng thái cực sướng của kẻ hành khất;

Mô hình màu RGB





Mô hình màu RGB là mô hình màu bổ sung (additive color model) trong đó ánh sáng đỏ, xanh lá cây và xanh lam được tổ hợp với nhau theo nhiều phương thức khác nhau để tạo thành các màu khác. Từ viết tắt RGB trong tiếng Anh có nghĩa là đỏ (red), xanh lá cây (green) và xanh lam (blue) - ba màu gốc trong mô hình này.

Lưu ý rằng mô hình màu RGB tự bản thân nó không định nghĩa thế nào là "đỏ", "xanh lá cây" và "xanh lam" một cách chính xác, vì thế với cùng các giá trị như nhau của RGB có thể mô tả các màu tương đối khác nhau trên các thiết bị khác nhau có cùng một mô hình màu. Trong khi cùng chia sẻ một mô hình màu chung, không gian màu thực sự của chúng lại thay đổi đáng kể.

Tartan Ribbon (Băng vải kẻ ca rô) - Bức ảnh màu đầu tiên trên thế giới
Kỹ thuật chụp: RGB, chụp ba lần với những kính lọc màu khác nhau, sau đó dùng ba máy chiếu sử dụng các kính lọc màu tương đương để hội tụ lên một màn hình.
Người chụp:  James Clerk Maxwell
Năm: 1861


Các màu gốc có liên quan đến các khái niệm sinh học hơn là vật lý, chúng dựa trên cơ sở phản ứng sinh lý học của mắt người đối với ánh sáng. Mắt người có các tế bào cảm quang hình nón nên còn được gọi là tế bào hình nón, các tế bào này thông thường có phản ứng cực đại với ánh sáng vàng - xanh lá cây (tế bào hình nón L), xanh lá cây (tế bào hình nón M) và xanh lam (tế bào hình nón S) tương ứng với các bước sóng khoảng 570 nm, 540 nm và 440 nm.

Mặc dù biên độ cực đại trong phản xạ của tế bào cảm quang không diễn ra ở các bước sóng của màu "đỏ", "xanh lá cây" và "xanh lam", ba màu này được mô tả như là các màu gốc vì chúng có thể sử dụng một cách tương đối độc lập để kích thích ba loại tế bào cảm quang.

Để sinh ra khoảng màu tối ưu cho các loài động vật khác, các màu gốc khác có thể được sử dụng. Với các loài vật có bốn loại tế bào cảm quang, chẳng hạn như chim, người ta có lẽ phải cần tới bốn màu gốc; cho các loài vật chỉ có hai loại tế bào cảm quang, như phần lớn các loại động vật có vú, thì chỉ cần hai màu gốc.

Nguồn: internet.

27 August 2012

Humbert trên sân ga thị trấn Ramsdale

Humbert trên sân ga Ramsdale.
Phim Lolita, 1997.

Tôi trao đổi thư từ với những người này, thuyết phục họ là tôi biết ăn ở sạch sẽ, rồi qua một đêm tuyệt vời trên tàu hỏa, tưởng tượng mọi chi tiết có thể về nymphet bí ẩn mà tôi sẽ dạy kèm bằng tiếng Pháp và mơn trớn bằng cách Humbert. Không ai đón tôi trên sân ga nhỏ như món đồ chơi, nơi tôi xuống tàu với cái túi xách mới đắt tiền, không ai trả lời điện thoại; cuối cùng, dù sao, ông McCoo quẫn trí trong bộ quần áo ướt sũng cũng ló mặt ra tại khách sạn duy nhất của thị trấn Ramsdale xanh đỏ này, báo tin rằng nhà ông vừa cháy ra tro – có lẽ, do bắt lửa từ đám cháy lớn cùng khoảng thời gian ấy, cái đám cháy đã rừng rực cả đêm trong mạch máu tôi. 

Trích đoạn từ chương 10, Lolita.

25 August 2012

Tang vật số hai

Cuốn Nhật ký (mà Humbert gọi là "tang vật số hai") là một chi tiết quan trọng trong Lolita. Humbert ghi chép tất cả cảm xúc hàng ngày vào cuốn Nhật ký của mình, trong đó ghi rõ những suy nghĩ châm biếm, ác cảm về Haze, những dục vọng với Lolita. Sau này, khi đã cưới Haze làm vợ, Humbert luôn cố gắng giấu cuốn Nhật ký nhưng vẫn bị vợ phát hiện ra.

Cuốn nhật ký bỏ túi, bìa đen giả da


Humbert đang viết nhật ký.

Tang vật số hai là cuốn nhật ký bỏ túi, bìa đen giả da, với niên hiệu vàng, 1947, in kiểu en escalier (bậc thang), ở góc trên bên trái. Tôi nói về sản phẩm tinh xảo này của hãng Blank Blank, Blankton, bang Massachusetts, tựa như nó đang thật sự trước mặt tôi. Trong thực tế, nó đã bị tiêu hủy năm năm trước đây, và cái chúng ta xem xét lúc này (nhờ trí nhớ hình ảnh) chỉ là thoáng hiện thân của nó, một con phượng hoàng non trần trụi và yếu ớt.

Tôi nhớ chính xác chuyện này như vậy vì thật ra tôi đã viết nó hai lần. Lần đầu tôi viết nhanh từng mục bằng bút chì (với nhiều tẩy xóa và chỉnh sửa) trên những tờ giấy từ cái vẫn được biết đến với tên thương mại là “sổ tay”; rồi sau đó, lược bỏ đôi chút cho dễ hiểu hơn, tôi chép lại chúng bằng nét chữ nhỏ nhất và ma quái nhất vào cuốn sổ nhỏ màu đen vừa nhắc đến.

Trích đoạn chương 11, Lolita.

23 August 2012

Vài hình ảnh chương 10 trong phim Lolita (1997)

Nói về bước ngoặt đột ngột: chúng tôi suýt nữa thì cán lên chú chó bắng nhắng (một con trong lũ chó ngoại ô thích rình mò ô tô) khi rẽ vào phố Lawn. Xa thêm đôi chút là ngôi nhà cô Haze, một khối kinh tởm trăng trắng, ló ra, nhìn dơ dáy và cũ kỹ, ngả màu xám hơn là trắng – cái loại nhà mà ta biết là sẽ có ống cao su cắm vào vòi nước bồn tắm thay thế cho vòi sen. Tôi bo cho tay tài xế và hy vọng gã sẽ lái xe đi ngay để tôi có thể quay lại khách sạn mà không ai thấy rồi cuốn gói; nhưng gã vừa chạy qua bên kia phố nơi quý bà già nua cất tiếng gọi gã từ cổng nhà bà. Tôi có thể làm gì đây? Tôi nhấn chuông.

Trích đoạn chương 10, Lolita

Lolita Bản dịch tiếng Việt,

Phép lịch sự Cựu lục địa, tuy nhiên, buộc tôi tiếp tục chịu cực hình. Chúng tôi đi ngang qua chiếu nghỉ đầu cầu thang bên tay phải nhà (nơi “tôi sống ở phòng này, còn Lo ở phòng kia”- Lo chắc là chị hầu gái), và vị Khách trọ - Nhân tình khó có thể giấu cái rùng mình khi anh ta, người đàn ông rất kỹ tính, được cho xem trước phòng tắm duy nhất, một khoang chữ nhật bé xíu nằm giữa chiếu nghỉ và phòng của “Lo”, cùng những thứ ướt nhèm mềm oặt vắt vẻo trên cái bồn tắm đáng ngờ (sợi lông cuốn thành hình dấu hỏi trong đó); với cuộn rắn cao su đã đoán trước, và đi cùng bộ với nó – tấm nệm hồng nhạt, bẽn lẽn phủ lên nắp bàn cầu.

Trích đoạn chương 10, Lolita


Lolita Bản dịch tiếng Việt

Lolita Bản dịch tiếng Việt