10 October 2013

Những Con Chuột Facebook.





Nếu như sự vĩ đại của Bill Gates là ở chỗ ông dự đoán được một tương lai mà tất cả mọi người đều có máy tính, sự vĩ đại của Steve Jobs ở chỗ ông phát triển được hệ thống sản xuất theo định hướng XHCN dưới lớp vỏ nhôm mĩ miều và lạnh lẽo của một nhà tư bản, thì sự vĩ đại của Mark Zuckerberg đơn giản hơn rất nhiều: chỉ là một nút Like. 

Trước Mark đã có vô số mạng xã hội, và hầu hết đều chết nhanh chóng sau khi cạn kiệt ý tưởng mới, chỉ có Mark là người duy nhất xây dựng được đế chế của riêng mình chỉ duy nhất bằng nút Like. Thực ra, nói một cách chính xác thì Mark Zuckerberg không phải là nhà kinh doanh, mà anh chính là Triết Gia, người hiểu được rằng bản chất của đám đông ngoài kia dù có tô vẽ bằng cái gì đi chăng nữa, thì vẫn chỉ là những con chuột mù quáng như trong thí nghiệm kinh điển của các nhà sinh vật học - tóm tắt như sau: cho con chuột vào trong lồng, và để 2 phím bấm; nếu chuột bấm phím số 1 sẽ có dòng điện chạy qua làm cho chuột đau đớn, bấm phím số 2 sẽ có miếng phó mát nhỏ ngon lành rơi vào lồng. Thí nghiệm cho thấy chuột rất nhanh chóng học được cách sử dụng phím số 2 và tránh xa phím số 1. Thí nghiệm này còn có những phát triển mở rộng, chẳng hạn như để 2 con chuột trong 2 cái lồng cạnh nhau, nếu con này nhấn phím thì con kia được ăn; sau một thời gian, lũ chuột cũng học được cách bấm phím để cả hai cùng có lợi. 

Mark đã cô đọng thí nghiệm này đến mức chỉ dùng duy nhất phím số 2, với đôi chút cải tiến, vẽ cho nó hình bàn tay màu xanh, và dán lên hệ thống của mình. Và thật kinh khủng, miếng phó mát ảo đó nhanh chóng thu hút được hàng tỷ con người-chuột lao vào điên cuồng bấm cho nhau thỏa mãn ngày đêm. Nút like của Mark chi phối cuộc sống lũ người-chuột đến mức có vô số con chỉ sống với mục đích duy nhất là làm sao để được like. Chúng ăn những thứ để được like, chúng đọc những thứ để được like, chúng đi những nơi để được like, chúng ngủ với những kẻ được like nhiều, chúng phơi toàn bộ cuộc đời ngớ ngẩn của chúng lên mạng chỉ vì những cái like xa lạ, và chúng nói đi nói lại những thứ nhảm nhí điên khùng và phi lý đến mức kinh tởm chỉ vì đám đông còn lại sẽ like chúng vì cái đó. Khoái lạc ảo do like mang lại đã làm chúng không thể rời khỏi máy tính dù chỉ một giây. Chúng facebooking từ trên bồn cầu WC cho đến bàn ăn, chúng facebooking ngay cả những lúc không thể tưởng tượng nổi, chẳng hạn như đang làm tình. Trên đời này chỉ duy nhất có một người bảo được chúng thôi không điên cuồng nhấn like nữa là cô tiếp viên hàng không. 

Tất cả các nhà tư bản lỗi lạc thật ra đều là các Triết Gia, từ Ford cho đến Mark Zuckerberg, họ đã thay đổi xã hội con người bằng các ý tưởng Triết học, và trói buộc đồng loại vào các cỗ máy kiếm tiền cho công ty họ. Từ Ford đến Facebook, từ tàu chiến hơi nước đến internet, con người ngày càng tự nguyện rời bỏ sự tự do của mình, bán rẻ linh hồn mình để mưu cầu một chút khoái lạc rẻ rúng và phi nhân tính.


29 September 2013

Russian Roulette (Trò Cò Quay Nga, Ru-lét Nga)

Luật chơi rất đơn giản: sử dụng một khẩu súng lục ổ đạn quay, trong ổ đạn để duy nhất 1 viên đạn, 2 người chơi sẽ lần lượt chĩa súng vào mình và bóp cò, người còn sống tất nhiên là người chiến thắng.

Lolita Bản Dịch Tiếng Việt

Bản dịch Lolita tiếng Việt
Hình minh họa trò chơi Russian Roulette

26 September 2013

Still Life, Hатюрморт, Tranh Tĩnh Vật

Picasso
The dessert. Picasso. 1901

Lolita Bản Dịch Tiếng Việt
Vincent van Gogh's Still Life: Vase with Twelve Sunflowers (oil on canvas, 35-3/4x28-1/4 inches) is housed at the Bayerische Staatsgemal- Desammlungen, Neue Pinakothek, Munich.

24 September 2013

Chim Sơn Ca Ba Tư (Persian bubble bird)



Trích đoạn chương 26, phần II, Lolita:

Wine, wine, wine, quipped the author of Dark Age who refused to be photographed, may suit a Persian bubble bird, but I say give me rain, rain, rain on the shingle roof for roses and inspiration every time.

Chú thích:

Persian bubble bird:  bulbul, a bird of the thrush family, is called the nightingale of the East.


14 September 2013

Merman

Other things of hers were harder to relinquish. Up to the end of 1949, I cherished and adored, and stained with my kisses and merman tears, a pair of old sneakers, a boy’s shirt she had worn, some ancient blue jeans I found in the trunk compartment, a crumpled school cap, suchlike wanton treasures. Then, when I understood my mind was cracking, I collected these sundry belongings, added to them what had been stored in Beardsley—a box of books, her bicycle, old coats, galoshes—and on her fifteenth birthday mailed everything as an anonymous gift to a home for orphaned girls on a windy lake, on the Canadian border.

Trích chương 25, phần II, Lolita.









12 September 2013

Gagoon

Lolita Bản Dịch Tiếng Việt


Trích đoạn trong chương 25, Lolita:

One day I removed from the car and destroyed an accumulation of teen-magazines. You know the sort. Stone age at heart; up to date, or at least Mycenaean, as to hygiene. A handsome, very ripe actress with huge lashes and a pulpy red underlip, endorsing a shampoo. Ads and fads. Young scholars dote on plenty of pleats—que c’était loin, tout cela! It is your hostess’ duty to provide robes. Unattached details take all the sparkle out of your conversation. All of us have known “pickers”—one who picks her cuticle at the office party. Unless he is very elderly or very important, a man should remove his gloves before shaking hands with a woman. Invite Romance by wearing the Exciting New Tummy Flattener. Trims tums, nips hips. Tristram in Movielove. Yessir! The Joe-Roe marital enigma is making yaps flap. Glamourize yourself quickly and inexpensively. Comics. Bad girl dark hair fat father cigar; good girl red hair handsome daddums clipped mustache. Or that repulsive strip with the big gagoon and his wife, a kiddoid gnomide. Et moi qui t’offrais mon génie … I recalled the rather charming nonsense verse I used to write her when she was a child: “nonsense,” she used to say mockingly, “is correct.”

Theo The Annotated Lolita:

Gagoon is a portmanteau of gag, goon, and baboon, while gnomide draws on the common meaning of gnome (dwarf) and combines its original meaning (from the Greek: a general maxim, a saying) with the nearly synonymous bromide (a tiresome, commonplace person; a hackneyed expression). Kiddoid is also H.H.’s coinage. Because the -oid suffix (resembling, having the form of) is used in scientific terms formed on Greek words, its incongruous usage here becomes humorous (e.g., anthropoid; H.H.’s word is defined as “genus of kid”).

11 September 2013

Magic Lantern

Except for the Rev. Rigor Mortis (as the girls called him), and an old gentleman who taught non-obligatory German and Latin, there were no regular male teachers at Beardsley School. But on two occasions an art instructor on the Beardsley College faculty had come over to show the schoolgirls magic lantern pictures of French castles and nineteenth-century paintings. I had wanted to attend those projections and talks, but Dolly, as was her wont, had asked me not to, period. I also remembered that Gaston had referred to that particular lecturer as a brilliant garçon; but that was all; memory refused to supply me with the name of the chateau-lover.


Lolita Bản Dịch Tiếng Việt
Máy chiếu

Lolita Bản Dịch Tiếng Việt
Máy Chiếu

Lolita Bản Dịch Tiếng Việt
Một buổi chiếu hình


27 August 2013

Erlkönig

Lolita Bản Dịch Tiếng Việt

ErlkönigErlking
von J.W. GoetheTranslation by Hyde Flippo

Wer reitet so spät durch Nacht und Wind?Who rides so late through the night and wind?
Es ist der Vater mit seinem Kind;It's the father with his child;
Er hat den Knaben wohl in dem Arm,He has the boy safe in his arm,
Er faßt ihn sicher, er hält ihn warm.He holds him secure, he holds him warm.
«Mein Sohn, was birgst du so bang dein Gesicht?» –“My son, what makes you hide your face in fear?” –
Siehst, Vater, du den Erlkönig nicht?Father, don't you see the Erlking?
Den Erlenkönig mit Kron und Schweif? –The Erlking with crown and flowing robe? –
«Mein Sohn, es ist ein Nebelstreif.» –“My son, it's a wisp of fog.” –
«Du liebes Kind, komm, geh mit mir!“You dear child, come along with me!
Gar schöne Spiele spiel' ich mit dir;Such lovely games I'll play with you;
Manch bunte Blumen sind an dem Strand,Many colorful flowers are at the shore,
Meine Mutter hat manch gülden Gewand.»My mother has many a golden garment.”
Mein Vater, mein Vater, und hörest du nicht,My father, my father, and do you not hear
Was Erlenkönig mir leise verspricht? –What the Erlking promises me so softly? –
«Sei ruhig, bleibe ruhig, mein Kind;“Be quiet, stay quiet, my child;
In dürren Blättern säuselt der Wind.» –In the dry leaves the wind is rustling.” –
«Willst, feiner Knabe, du mit mir gehn?“Won't you come along with me, my fine boy?
Meine Töchter sollen dich warten schön;My daughters shall attend to you so nicely.
Meine Töchter führen den nächtlichen Reihn,My daughters do their nightly dance,
Und wiegen und tanzen und singen dich ein.»And they'll rock you and dance you and sing you to sleep.”
Mein Vater, mein Vater, und siehst du nicht dortMy father, my father, and do you not see over there
Erlkönigs Töchter am düstern Ort? –Erlking's daughters in that dark place? –
«Mein Sohn, mein Sohn, ich seh es genau:“My son, my son, I see it most definitely:
Es scheinen die alten Weiden so grau.»It's the willow trees looking so grey.”
«Ich liebe dich, mich reizt deine schöne Gestalt;“I love you; I'm charmed by your beautiful form;
Und bist du nicht willig, so brauch ich Gewalt.»And if you're not willing, then I'll use force.”
Mein Vater, mein Vater, jetzt faßt er mich an!My father, my father, now he's grabbing hold of me!
Erlkönig hat mir ein Leids getan! –Erlking has done me harm! –
Dem Vater grausets, er reitet geschwind,The father shudders, he rides swiftly,
Er hält in Armen das ächzende Kind,He holds in (his) arms the moaning child.
Erreicht den Hof mit Mühe und Not;He reaches the farmhouse with effort and urgency.
In seinen Armen das Kind war tot.In his arms the child was dead.

Lolita Bản Dịch Tiếng Việt


Chúa rừng 
(Dịch thơ: Apomethe)

Ai cưỡi ngựa muộn màng giữa đêm khuya và gió? 
Đó là người cha và đứa con trai 
Ông giữ nó trong vòng tay mạnh mẽ 
Truyền hơi ấm và ôm sát bên mình 

"Con trai ta, ai khiến con phải sợ" 
"Cha không thấy sao, chính Chúa rừng 
Với vương miện cùng chiếc áo choàng đen" 
"Kìa con trai, chỉ là một màn sương" 

"Này cậu bé, hãy đến đây với ta 
Ta sẽ chơi cùng ngươi một trò vui 
Những bông hoa đầy màu sắc trên bãi biển 
Mẹ của ngươi sẽ có những bộ váy bằng vàng" 

"Cha ơi cha, chẳng lẽ không nghe thấy 
Những lời hứa ngọt ngào của Chúa rừng?" 
"Yên lặng nào, hãy yên lặng con trai 
Chỉ là những lá cây xào xạc trong gió" 

"Nào bé ngoan, có đến với ta không? 
Các em ta sẽ chăm sóc ngươi cẩn thận 
Và mở đầu vũ hội của buổi đêm 
Họ sẽ nhảy và hát ru ngươi ngủ 

"Cha ơi cha, chẳng lẽ không nhìn thấy 
Những em gái Chúa rừng trong bóng đêm" 
"Ôi con trai ta, ta đang nhìn rất rõ 
Những cây cỏ già xám trong đêm" 

"Ta yêu ngươi, và bị quyến rũ bởi sắc đẹp của ngươi 
Và nếu ngươi không đồng ý, ta sẽ dùng vũ lực" 
"Cha ơi cha,ông ấy đang bắt con 
Chúa rừng làm con đau" 

Người cha rùng mình và cưỡi ngựa như bay 
Trong tay ôm đứa trẻ đang rên rỉ 
Về đến nhà với sự khẩn trương và cố gắng 
Đứa trẻ đã chết trong tay ông


Erlkönig Bài thơ thể ballad của Goethe

Thơ của Goethe bắt đầu bằng việc một người cha mang theo đứa trẻ trở về nhà. Bài thơ ban đầu miêu tả việc đứa bé bị chết bởi một căn bệnh lạ, và nó đã nhìn thấy cái chết qua trí tưởng tượng của mình. Và xuất phát từ đó, bài thơ có khuynh hướng ngày càng đen tối, và kết thúc bằng cái chết của đứa trẻ. 

Câu chuyện là có thật khi Goethe đến thăm một người bạn vào lúc đêm tối, trong màn đêm có một bóng đen ôm một vật trong tay phi như bay qua cổng. Ngày hôm sau nhà thơ và người bạn được kể lại rằng họ đã nhìn thấy một người người nông dân mang đứa con bị bệnh đến bác sĩ. Tình tiết này đã là nguồn cảm hứng cho bài thơ.

Nabokov đã sử dụng ý thơ này trong chương 22, phần II, Lolita:

With a heterosexual Erlkönig in pursuit, thither I drove, half-blinded by a royal sunset on the lowland side and guided by a little old woman, a portable witch, perhaps his daughter, whom Mrs. Hays had lent me, and whom I was never to see again.