14 July 2014

Từ chuyện Lê Hoàng ngồi lên sách, đến lệch lạc tâm lý cần điều trị


Mặc dù cái gọi là giới trí thức Việt Nam đang bất đồng ý kiến đến mức cực đoan về tấm ảnh một đạo diễn và một cô hoa hậu ngồi lên những chiếc ghế được kê chân lên đống sách, nhưng thật ra vấn đề này đã được Marx nhắc đến trong bộ Tư Bản, và thậm chí ngày nay còn được coi là một trong những khái niệm trung tâm của chủ nghĩa Marx, đó chính là chứng bái vật giáo.


Hình ảnh Lê Hoàng - Triệu Thị Hà ngồi lên sách bị 'ném đá' trên mạng - Ảnh: T.L

Từ bái vật giáo hàng hóa

Thuật ngữ “bái vật” được dùng để chỉ hiện tượng mà một vật nào đó, đặc biệt là một vật do con người tạo ra, được người ta cho rằng có sức mạnh phi thường và có quyền lực mạnh hơn các vật khác. Về cơ bản, bái vật (fetishism) là việc gán cho một vật vô tri vô giác nào đó có giá trị hay có sức mạnh đặc biệt mang tính biểu tượng. Vật đó có thể là một bức tượng, một chiếc đồng hồ, một cái xe hơi, một ngôi nhà, hay thậm chí đơn giản là một cuốn sách.

Theo Marx, trong xã hội tư bản chủ nghĩa, con người giao tiếp với nhau thông qua hàng hóa, hầu hết các mối quan hệ dựa trên sự trao đổi hàng hóa (bao gồm sức lao động và thời gian), và điều này đưa đến hậu quả tất yếu là con người đánh giá nhau qua hàng hóa, hàng hóa trở thành đại diện cho con người, và đến một lúc nào đó, con người sẽ tha hóa đến mức sùng bái hàng hóa, gán cho chúng những sức mạnh và giá trị tinh thần mà chúng hoàn toàn không sở hữu.

Có thể đáng tiếc, có thể không, nhưng cho đến ngày nay, quan điểm này của Marx vẫn hoàn toàn chính xác!

Cho đến sai lạc tình dục


Sigmund Freud (6 May 1856 – 23 September 1939) 

Ngoài ra, Sigmund Freud cũng sử dụng thuật ngữ "bái vật" để mô tả một hình thái sai lạc tình dục, khi đối tượng tình cảm là đồ vật vô tri giác hay bộ phận cụ thể nào đó trên cơ thể. Các nhà tâm lý hiện đại cho rằng chứng bái vật vừa bắt nguồn từ điều kiện môi trường hay hệ quả của những trải nghiệm gây cảm xúc mạnh để lại dấu vết trong não (tức các chấn thương tâm lý), nhưng cũng có thể do các yếu tố thể chất như cấu trúc não và di truyền. Chẳng hạn như một người từ bé đã thấy cảnh bố mẹ làm tình trên những cuốn sách, thì sau này, một cách vô thức, sẽ cảm nhận được khoái lạc khi nhìn thấy sách.

Bái vật trong tình dục là trạng thái phải được nhìn thấy, được sờ mó, hôn hít một vật nào đó thuộc nhiều loại khác nhau thì mới tạo được khoái cảm. Về cơ bản, bái vật là một sai lạc về đối tượng, lấy một bộ phận ra để thay thế cái toàn thể, ví dụ có nhiều nam giới bị kích thích tình dục với giày của phụ nữ. Vật càng gần cơ quan sinh dục nữ càng dễ gây kích thích, vì thế đồ lót của phụ nữ là thứ rất gây kích động cho nam giới. Như vậy, hình ảnh những cuốn sách bị phụ nữ ngồi lên sẽ có thể gây khoái cảm đặc biệt cho một số bệnh nhân nam giới, do chúng ở vị trí gần với các cơ quan sinh dục nữ nhất, như chúng ta đã thấy trong trường hợp nổi tiếng được nhắc đến ở đầu bài viết này.

Điều trị

Có nhiều liệu pháp đã từng được áp dụng để điều trị căn bệnh lệch lạc tâm lý này, ví dụ như liệu pháp tạo ra điều kiện để kinh sợ: cho người bệnh đối diện với vật được yêu thích và ngay khi họ phát sinh hứng khởi tình dục thì bị ngay một kích thích khó chịu hay đau đớn. Trước đây người ta đã dùng những kích thích đau đớn như choáng điện là điều kiện để gây kinh sợ. Giả dụ như chúng ta có thể cho người bệnh ngồi trước một màn hình có chạy nhiều hình ảnh khác nhau, mỗi khi có cuốn sách nào chạy qua thì ghế sẽ phát ra dòng điện đủ mạnh để bệnh nhân đau đớn, hoặc thậm chí tiết ra một số dung dịch bay hơi có mùi khó chịu để bệnh nhân cảm thấy kinh sợ.

Nhưng để chữa căn bệnh tận gốc, thì phải tìm cách cho bệnh nhân nhận thức được sự khác biệt giữa hàng hóa và con người nói riêng cũng như các giá trị tinh thần nói chung. Và mặc dù có lý thuyết cho rằng cấu trúc bộ não là căn nguyên của chứng bái vật giáo, nhưng điều đó chưa bao giờ được chứng minh. Và Marx vẫn đặt niềm tin vào một hình thái xã hội mà ở đó quan hệ giữa con người không chỉ còn là quan hệ hàng hóa.

Còn chúng ta, trong khi chờ đợi giấc mơ của Marx thành hiện thực, thì ít nhất cũng đừng để mình thành một bệnh nhân của ông bác sĩ thành Viên kia!

Nguồn:

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140712/tu-chuyen-le-hoang-ngoi-len-sach-den-lech-lac-tam-ly-can-dieu-tri.aspx

3 July 2014

Phê bình dịch thuật và song đề tù nhân


Thời gian gần đây luôn có những đợt sóng phê bình ào ạt vỗ vào ốc đảo nhỏ nhoi lởm chởm đá tai mèo và thấp thoáng những ngọn hải đăng cũ kỹ trong sương chiều của nền văn học dịch nước nhà. Cũng lạ là từ chỗ chỉ biết gục đầu thành kính đọc tất cả những gì được dịch ra tiếng Việt, độc giả lại quay ngoắt qua chê trách hầu như là tất cả các bản dịch, dù chúng được dịch từ những cây đa cây đề bấy lâu nay vẫn được tưới tắm cẩn thận và thường xuyên bởi những bài báo, giải thưởng, và lời khen (lẫn nhau) của người nhà.

Người thì bảo các thảm họa dịch thuật có nguyên nhân do biên tập quá ẩu, người thì phân trần do nhuận bút quá bèo làm cho dịch giả không thể dịch cho kỹ, người lại nói… từ trước đến nay văn học dịch vốn dĩ là loạn, sao lại ném đá chúng tôi, chỉ vì chúng tôi sinh ra phải cái thời mà bất cứ ai cũng có thể tra cứu tiếng Anh và có được bản gốc chỉ bằng vài cú bấm chuột hay là chạm đầu ngón tay?

Dương Tường, Lolita, Xin lỗi, Báo Tuổi Trẻ

Dương Tường buộc phải xin lỗi độc giả vì đã đạo chú thích Lolita 

Phê bình hay đập cho chết?

Đứng trên một góc độ nào đó, thì rõ ràng là phê bình dịch thuật đang ở trong một giai đoạn rất thiếu tính xây dựng đối với dịch giả. Hầu như các bài phê bình mang tính “đập chết ăn thịt”, tìm và thống kê hàng loạt lỗi dịch sai thô thiển đến mức không thể chấp nhận nổi, rồi kết luận là dịch giả quá kém. Tuy nhiên, những lỗi còn nguy hiểm hơn ví dụ như dịch sai hoàn toàn ý tác giả (mặc dù đúng từng từ trong từ điển) thì lại ít khi được đề cập đến.

Điều này làm cho dịch giả rất ấm ức, và luôn phân trần rằng ai cũng có thể dịch sai từ, những phê bình kiểu moi móc vài chục lỗi sai trong một bản dịch hàng chục hay hàng trăm ngàn từ là khá bất công với dịch giả. Thậm chí có dịch giả còn phản ứng quyết liệt bằng cách hỏi nhà phê bình xem, chẳng hạn, anh nói tôi dịch sai hàng ngàn từ, thì chứng cứ đâu?

Tuy nhiên, không một tờ báo tử tế nào sẽ chịu đăng một bài viết chỉ để liệt kê 3000 lỗi trong một cuốn sách nào đó. Và với những lỗi mang tính học thuật, tranh luận về các đoạn dịch sai ý tác giả mặc dù đúng đến từng chữ, sẽ tốn giấy tốn mực đến mức chúng chỉ có thể đăng trên các trang web cá nhân của nhà phê bình.

Chính điều đó đã dẫn đến tình trạng phải nói là phê bình dịch thuật theo kiểu quyết liệt triệt hạ cho bằng được như hiện nay trên báo chí VN. Những người phê bình không muốn mất thời gian vào chuyện tranh cãi triền miên về một quan điểm dịch với hàng ngàn bài viết xung quanh chỉ một từ duy nhất, điển hình là chỉ với một từ của nhà văn Tim O’Brien mà giới phê bình đã phải thư qua tin lại đến vài chục bài, tốn giấy tốn mực của hầu hết các tờ báo lớn nhỏ của VN, đủ thấy việc phê bình học thuật gian nan đến mức nào, và thái độ phản ứng đến cùng của dịch giả đã đưa đến một kiểu phê bình chỉ nhằm vào việc dịch sai từ. Anh không chịu nhận chỗ này anh dịch sai ý phải không, thế thì tôi sẽ chỉ cho anh hàng chục, hàng trăm chỗ anh dịch sai nghĩa nhé?

Dịch sai tiếng Anh quả thật là tệ, nhưng đáng tiếc đây chưa phải là lỗi nghiêm trọng nhất trong dịch thuật. Đương nhiên với các nhà văn lớn, như Tim O’Brien, Nabokov,… thì không nên và không thể dịch sai dù chỉ một từ, do họ đều suy ngẫm từng từ ngữ họ viết; nhưng một bản dịch vẫn có thể sai hoàn toàn mặc dù dịch sát đến từng chữ. Nhất là những bản dịch từ tiếng Anh – một thứ tiếng có những nghĩa thay đổi hoàn toàn theo ngữ cảnh của nó.

Thái độ đối đầu của dịch giả và giới phê bình đã làm cho họ không thể ngồi nói chuyện với nhau được về những cái quan trọng hơn trong văn chương. Rất khó, và thực tế là không thể bảo một cái đang tưởng nó là ngọn Hải Đăng, rằng nó cần phải đổi hướng đi.

Phê bình có dễ không?

Ở một đất nước duy tình hơn duy lý như VN chúng ta, nơi mà người ta vẫn bảo nhau rằng một bồ cái lí không bằng một tí cái tình, thì phê bình dịch thuật nói riêng và phê bình nói chung là một việc cần nhiều dũng cảm hơn là người ta tưởng.

Có trăm ngàn cách nói để người ta trách cứ một nhà phê bình: Nó còn quá ít tuổi, anh phê bình thế thì làm sao nó còn có nhiệt tình để dịch tiếp? Ông ấy đã quá già, sao anh có thể nói như thế với một người già? Cô bé đó viết như vậy là khá rồi, sao anh lại đòi hỏi quá nhiều ở một cô gái viết văn? Dịch giả đó đang gặp những chuyện buồn đấy, anh làm vậy ác quá! Tác phẩm đó rất là khó, dịch được như thế hoàn toàn không dễ, anh nên có tinh thần xây dựng hơn! Cái chuyện ấy thì dịch sao mà chẳng được, anh xét nét quá đáng! Đó là chưa kể một số người còn cho rằng phê bình một tác phẩm đôi khi chỉ giúp cho nó bán chạy hơn. Thậm chí nghi ngờ… nhà phê bình là tay trong của nhà sách!

Lolita và Song đề tù nhân

Một số khái niệm nổi tiếng trong Lý thuyết trò chơi là Đảm bảo phá hủy lẫn nhau (mutual assured destruction), Song đề tù nhân (prisoner's dilemma)

Thực ra hiện nay, đã là trí thức thì ai cũng có thể là dịch giả hoặc nhà phê bình dịch thuật. Hai vai trò đó không đối kháng lẫn nhau trong một cá nhân. Và nó gợi lại bài toán nổi tiếng có tên là Song Đề Tù Nhân trong lý thuyết trò chơi (game theory). Tóm lược như sau: Hai kẻ bị tình nghi là tội phạm bị cảnh sát bắt. Cảnh sát không có đủ chứng cớ để kết án họ, nên đã cách ly họ. Cảnh sát gặp từng người một và làm cùng thoả thuận: nếu một người thú tội mà người kia im lặng, người im lặng sẽ bị phạt 10 năm tù và người thú tội sẽ được thả tự do. Nếu cả hai đều im lặng, cảnh sát chỉ phạt được mỗi tù nhân 6 tháng tù vì một tội nhỏ nào đó khác. Nếu cả hai đều thú tội, mỗi người sẽ bị phạt 2 năm.

Về mặt lý thuyết thì cả hai nên giữ im lặng để cùng bị phạt ít nhất. Nhưng trong thực tế thì các thí nghiệm cho thấy đa phần người ta chọn giải pháp thú tội. Lý thuyết trò chơi đã có sự phát triển mạnh từ khi John von Neumann là người đầu tiên hình thức hóa nó trong thời kỳ trước và trong Chiến tranh Lạnh, chủ yếu do áp dụng của nó trong chiến lược quân sự, nổi tiếng nhất là khái niệm đảm bảo phá hủy lẫn nhau mà các siêu cường áp dụng để phát triển hệ thống vũ khí hạt nhân hủy diệt của họ. Những ý tưởng từ lý thuyết trò chơi cũng tìm được chỗ đứng trong việc xây dựng một thị trường cạnh tranh, khi các nhà cung cấp không thể bắt tay nhau để mưu lợi cho nhóm của mình.

Quay về vấn đề phê bình dịch thuật, có thể thấy giải pháp tốt nhất cho giới dịch giả là im lặng trước tất cả những sai sót của đồng nghiệp. Thực tế vừa qua đã cho thấy một nhà cựu-phê bình đã bị phê bình khốc liệt đến thế nào. Có lẽ anh cũng có đôi chút ăn năn về những lời ngày xưa mình đã viết về đồng nghiệp! Tuy nhiên điểm cân bằng mang tính lợi ích nhóm này rất mong manh và sẽ nhanh chóng bị phá vỡ. Thực tế thì cộng đồng không được lợi ích gì khi phải mua sản phẩm được “sản xuất” ra từ một nhóm “đoàn kết nhất trí cao” như thế.

Dù giới dịch giả có phản ứng đến thế nào, thì vai trò của các nhà phê bình là cực kỳ quan trọng trong việc nâng cao chất lượng và đảm bảo quyền lợi cho khách hàng - ở đây là những độc giả mua sách dịch. Chúng ta cần ủng hộ các nhà phê bình cũng nhiều như ủng hộ các bản dịch chất lượng cao. Không thể chấp nhận thái độ của một số dịch giả coi việc dịch sách là một công việc cá nhân bất chấp độc giả, coi độc giả chỉ như những kẻ ăn “cơm mớm” từ miệng dịch giả. Hàng triệu độc giả không biết tiếng Anh và bỏ tiền ra để mua các “dịch phẩm”, sẽ nghĩ thế nào khi biết dịch giả coi thường họ như thế?

Phê bình như thế nào?

Như đã nói ở trên, báo chí không thể đóng vai trò có tính chuyên môn trong việc phê bình dịch thuật, báo chí chỉ có thể rung những hồi chuông cảnh báo về chất lượng của một bản dịch nói riêng, hay là một xu hướng dịch loạn nói chung; và để làm như vậy nó buộc phải dùng biện pháp nghiệp vụ đặc thù của mình là “đánh” vào những biểu tượng nhất định, hoặc vào những thứ mang tính biểu tượng.

Để việc phê bình dịch thuật thực sự mang lại hiệu quả, thì sau những bài báo sẽ phải là các nghiên cứu chuyên sâu hơn, thậm chí là những hội thảo chỉ nhằm vào việc phân tích một bản dịch. Các dịch giả cũng nên từ bỏ tâm thế coi tất cả những phê bình là nhằm vào cá nhân hay một công ty, một nhà sách nhất định. Nếu anh là một dịch giả lương thiện, yêu nghề, hãy đừng ngại lời phê bình, dù nó đúng hay sai, thì nó cũng là những cơ hội để anh hiểu được mình, hiểu được tác phẩm mình đã dịch. Và trên hết, chính những lời phê bình đó sẽ tạo ra một môi trường lành mạnh mà các tác phẩm dịch của anh mong muốn mang đến cho độc giả.

Nhà văn Nguyễn Tuân từng nói: “Khi tôi chết, nhớ chôn tôi cùng một thằng phê bình!” Cũng không hiểu cụ nói thế là quá ghét hay là quá yêu các nhà phê bình. Nhưng chắc chắn rằng sống hay chết, thì phê bình vẫn phải đồng hành với văn chương, dù đó chỉ là văn chương dịch.

Thiên Lương 


http://vietnamnet.vn/vn/van-hoa/120275/phe-binh-dich-thuat-va-song-de-tu-nhan.html

13 June 2014

Cái nút áo bằng kim cương giả





Những vật dụng nào sẽ được người đàn bà bỏ lại khi ra khỏi nhà sau một cuộc hôn nhân? Có người bỏ lại tất cả, trừ những đứa con. Có người gói ghém gọn gàng tất cả quần áo lót cho vào một cái bọc rồi vứt vào thùng rác. Còn nàng Valeria, vợ đầu của Humbert, đã vứt xuống bùn một cái nút áo:

Sự trống trải ngoài phố, không hé lộ chút gì về chuyến ra đi của vợ tôi ngoài một nút áo bằng kim cương giả mà ả vứt xuống bùn sau khi gìn giữ nó ba năm vô ích trong chiếc hộp vỡ, có lẽ đã cứu tôi khỏi cảnh máu me đầy mũi.

Nếu như khi chia tay, người đàn ông có thể ra đi với bộ quần áo trên người (và một cái thẻ ATM trong túi, chẳng hạn), và bước vào cơn mưa với cả một trời tự do trước mắt; thì đàn bà, dù có là Tây chăng nữa, cũng vướng víu đủ thứ đồ đạc cá nhân của mình, từ những mẩu son dùng dở, gói băng vệ sinh chưa đụng đến, cho đến những cái túi đắt tiền, và vô số quần áo thậm chí chưa cắt giá, đó là chưa kể những đứa con, những người bạn chung, những con đường nhỏ, những góc phố quen. Vậy nên sự ra đi của đàn bà lúc nào cũng bi tráng, cũng là dấu ấn không thể quên, dù là với ai. Khó có cảnh chia tay nào được mô tả hài hước mà vẫn đau đớn như Nabokov đã viết trong chương 8 này. Cái nút áo ấy là một chi tiết rất giàu hình ảnh và cũng là một sự tóm tắt không thể ngắn gọn hơn về thời gian chung sống giữa Valeria và Humbert. Ngoài chuyện làm bằng kim cương giả hàm chứa ẩn ý về một cuộc hôn nhân từ bản chất đã không thật (kim cương trong văn hóa châu Âu và Mỹ luôn đi liền với hôn nhân), nó còn là hình ảnh tượng trưng cho sự tạm bợ của mối quan hệ, và cũng là lời trách móc của Humbert với vợ. Một người đàn bà vô tâm đến mức không đơm lại được cái nút áo, mà quăng vào cái hộp vỡ, thì làm sao giữ được gia đình. Nó rất dễ bị bỏ qua, nhưng với ai đọc Lolita thật kỹ, thì nó cũng là một trong những hình ảnh tuyệt đẹp mà Nabokov khéo léo sắp đặt khắp mọi nơi trong cuốn tiểu thuyết, và, theo Nabokov, là:

... những điểm bí mật, những tọa độ trong tiềm thức mà dựa trên chúng cuốn sách này đã được đồ nên — mặc dù tôi nhận thức được rất rõ ràng rằng những cảnh này cảnh khác sẽ bị đọc lướt qua hoặc không để ý đến, hoặc thậm chí chẳng bao giờ được đụng đến, bởi những kẻ bắt đầu đọc cuốn sách dưới ấn tượng rằng nó là cái gì đó từa tựa như “Hồi ký của Cô gái điếm” hoặc “Les Amours de Milord Grosvit.”

Và, thưa độc giả, xin hãy đừng bỏ qua bất cứ một từ nào, bất cứ một chi tiết nào trong Lolita.

25 May 2014

Nước xuất Mã của Lolita



Lolita nổi tiếng là một tác phẩm khó đọc và cực kỳ khó dịch, đến mức có thể nói rằng không có một dòng nào trong cuốn sách này không làm độc giả phải ngẫm nghĩ về dụng ý của tác giả cùng những liên tưởng ngầm định đến những nơi khác, cả nằm trong và nằm rất ngoài khuôn khổ cuốn sách. Tuy nhiên, vẫn có những chỗ đặc biệt khó hiểu, và theo kinh nghiệm của tôi thì chúng thường nằm ở đầu và cuối các chương. Nabokov rất thích dùng hình ảnh để minh họa cho dòng suy tưởng của mình, và cái khó khi đọc Lolita là các hình ảnh ấy không dễ hiểu với độc giả bình thường, do chúng thuộc về các lĩnh vực rất đa dạng mà không phải ai cũng am tường. 

Câu văn cuối chương 9 phần II Lolita có thể là một ví dụ tốt cho điều tôi viết trên đây: 

Một trong những ô vuông mắt cáo của cái cửa sổ nhỏ hai cánh giăng đầy mạng nhện tại chỗ ngoặt cầu thang được lắp kính màu ngọc đỏ, vết thương tươi rói này nằm giữa những hình chữ nhật không nhuộm màu và vị trí bất đối xứng của nó — một nước xuất Mã từ trên đỉnh, luôn làm tôi bất an lạ lùng.

Ngữ cảnh liên quan: Lolita lúc này đã có quan hệ với Quilty, nhưng Humbert vẫn chưa nghi ngờ gì. Một ngày nọ, Lo gọi điện nói sẽ về muộn và nhờ Humbert tiếp cô bạn Mona mà nàng hẹn đến nhà tập kịch. Mona và Humbert nói chuyện với nhau, và Humbert có cảm giác Mona đang tìm cách gạ gẫm mình, đúng lúc đó thì Lolita về nhà. Và Humbert để cho hai bạn gái ở lại với nhau, bước lên cầu thang. 

Để diễn tả tâm trạng bối rối của Humbert, Nabokov đã để cho ông ta mô tả ô cửa sổ mà ông ta đang nhìn thấy trên chỗ ngoặt cầu thang như một bàn cờ cách điệu, với một ô kính màu ngọc đỏ như vết thương tươi rói gợi hình ảnh một nước xuất Mã từ trên đỉnh. Nếu ai không chơi cờ Vua có lẽ sẽ thấy câu văn này khó hiểu, nhưng ai biết chơi môn cờ này sẽ hiểu cảm giác của Humbert. Trong cờ Vua, bàn cờ được chia thành 64 ô vuông khác màu, và quân Mã di chuyển khó lường nhất, theo một hình chữ nhật cạnh là 3x2 ô vuông, rất nhiều đòn phối hợp nguy hiểm và tuyệt đẹp trong cờ Vua có sự tham gia của quân Mã nhờ sự biến hóa trong nước đi của nó. Ngoài ra, trong cờ Vua, người chơi luôn tư duy theo chiều hướng quân đối thủ ở phía trên, phía bên kia bàn cờ, nên câu văn một nước xuất Mã từ trên đỉnhcòn gợi ý đến một nước ra quân Mã của đối phương, một nước đưa quân cờ tráo trở và khó lường nhất của họ vào cuộc chơi. Đó có lẽ cũng là tâm trạng của Humbert sau cuộc gặp với Mona. Phải chăng Lolita đã chớm có dấu hiệu phản bội, đã có những bước đi tráo trở đầu tiên trong cuộc tình giữa hai người? Ý nghĩ đó đâm vào lòng Humbert và để lại vết thương còn tươi rói. 

Thực ra, thế giới bên ngoài chỉ là hình ảnh phản chiếu những gì nằm trong chính nội tâm của người quan sát, thậm chí theo những người theo quan điểm duy tâm chủ quan cực đoan thì thế giới bên ngoài không tồn tại khách quan; và chỉ có chủ thể có ý thức là hiện thực không nghi ngờ gì, còn lại tất cả chỉ tồn tại trong ý thức của chủ thể đó mà thôi. Cách viết của Nabokov trong Lolita luôn bám theo quan điểm ấy, nên nhiều đoạn văn ngắn trong Lolita, mặc dù nhìn có vẻ không liên quan đến tác phẩm, nhưng nếu người dịch không hiểu nhân vật và không có đủ kiến thức về hình ảnh mà Nabokov sử dụng, thì sẽ dịch sai hoàn toàn. Có thể đoạn dịch sai ấy không làm độc giả hiểu sai về tác phẩm, nhưng sẽ tầm thường hóa nó, biến nó thành một câu chuyện rẻ tiền về một mối quan hệ ấu dâm mà thôi. 

19 May 2014

Tôi Yêu Cô



Pushkin

Thiên Lương dịch

Tôi yêu cô: dường như, tình yêu ấy
Trong lòng tôi chưa hẳn đã nguôi ngoai;
Nhưng mong sao nó không phiền cô nữa
Tôi nào muốn cô buồn mãi những một mai
Tôi yêu cô âm thầm, vô vọng
Lúc rụt rè, khi ghen quặn lòng đau;
Tôi yêu cô chân thành, cẩn trọng
Cầu cho cô được vậy với người sau.

BẢN GỐC:

Я вас любил

Александр Сергеевич Пушкин (1799—1837)

Я вас любил: любовь еще, быть может,
В душе моей угасла не совсем;
Но пусть она вас больше не тревожит;
Я не хочу печалить вас ничем.
Я вас любил безмолвно, безнадежно,
То робостью, то ревностью томим;
Я вас любил так искренно, так нежно,
Как дай вам бог любимой быть другим.

1829

7 March 2014

Về Cuốn Sách Nhan Đề Lolita




Sau khi tôi nhp vào hin thân ông John Ray tinh tế, mt nhân vt trong Lolita và cũng là người thảo Li Ta, thì bt c li nhn xét nào xut phát trc tiếp t tôi đu có th gây cho người ta n tượng — và trên thc tế cũng có th gây n tượng cho chính tôi — như mt hin thân ca Vladimir Nabokov đang nói v cun sách ca chính ông ta. Du sao chăng na, có vài đim vn cn phi được tranh lun; và th pháp t truyn có th khiến cho người khéo bt chước và người làm mu hòa ln vào vi nhau.

Các giảng viên văn chương hay có khuynh hướng sáng chế những luận đề như thể “Mục đích của tác giả là gì?” hay thậm chí trầm trọng hơn “Anh chàng này muốn nói điều gì đây?” Mà tôi tình cờ lại là dạng tác giả từ ngay lúc bắt đầu làm việc với cuốn sách nào đó đã chẳng có mục đích nào khác ngoài việc thoát khỏi cuốn sách ấy, và là người, khi được thỉnh cầu giải thích nguyên khởi và diễn tiến của nó, sẽ cậy nhờ vào những thuật ngữ cổ giả dụ như sự Tương Tác của Cảm Hứng với Phối Hợp — những thứ mà, tôi xin thú nhận, nghe như một ảo thuật gia giảng giải về mánh lới này bằng việc biểu diễn mánh lới khác.

Nhp đp kh khàng đu tiên ca Lolita chy sut qua tôi hồi cui năm 1939 hay đu năm 1940, Paris, vào thi gian mà tôi nm bp vì căn bnh đau dây thn kinh liên sườn ti t. Theo nhng gì tôi còn nh được, thì cái rùng mình khi nguồn cm hng đã được khơi gi phần nào bi một bài tường thuật trên báo v con dã nhân trong vườn bách thú Jardin des Plantes, k, sau nhiu tháng bị mt khoa hc gia d ngon d ngt, đã to ra được bc tranh đu tiên tng được v bng chì than bi mt con thú: bc phác ha này cho thy nhng thanh chn song ca cái chung nht to vt đáng thương y. Tài liu có tính thúc đy này không có s liên quan v mt nguyên bn đến mch suy nghĩ tiếp theo, cái, du sao thì, cũng đã dn đến, nguyên mu ca tiu thuyết này ca tôi, mt truyn ngn khong ba chục trang. Tôi viết nó bng tiếng Nga, ngôn ng mà tôi đã s dng đ viết tiu thuyết t năm 1924 (nhng cun hay nht trong s chúng chưa từng được dch qua tiếng Anh, và tất cả b cm, vì nhng lý do chính trị, ở Nga). Nam nhân là dân Trung Âu, nymphet n danh là dân Pháp, và đa đim là Paris với Provence. Tôi cho y cưới người m đau m ca cô bé, bà này qua đời sau đó ít lâu, và sau mt toan tính bt thành nhm li dng cô bé m côi mt buồng khách sn, Arthur (bi đấy là tên y) lao mình vào dưới bánh xe tải. Tôi đọc truyện này trong một đêm thời chiến dưới ánh đèn bọc giấy xanh lơ cho một nhóm bạn — Mark Aldanov, hai nhà cách mạng xã hội, với một bác sỹ nữ; song tôi không vừa ý với nó và hủy nó một hôm nào đó sau khi chuyển qua Mỹ hồi năm 1940.

Khong năm 1949, tại Ithaca, thuộc vùng Bc New York, nơi tôi dy văn hc Nga, nhp đp y, vn chưa khi nào ngưng hn, bt đu quy tôi tr li. S phối hp kết giao cùng cm hng bng nim đam mê tươi mi và cun hút tâm trí tôi vào mt cách x lý mi vi ch đ, ln này bng tiếng Anh — ngôn ng ca n gia sư đu tiên ca tôi St. Petersburg, hi năm 1903, bà Rachel Home. Nàng nymphet, gi đây mang chút dòng máu Ai-Len, thc tế vn là cô thiếu n y như thế, và ý tưởng căn bn v tình-con-duyên-m cũng vn tiếp tc tn ti; song về mt khác thì câu chuyn rt mi m và kín đáo mc dn các vut và cánh ca tiu thuyết.

Cun sách tiến trin chm, vi nhiu gián đon và nhng ch lc đ. Tôi mt độ bn chục năm đ thêu dt nên nước Nga và Tây Âu, và gi đây tôi đi mt vi nhim v thêu dt nước M. Vic thu thp nhng nguyên liu đa phương thuc loi s cho phép tôi rưới thêm đôi chút “thc tế” (mt trong vài t s chng có ý nghĩa gì nếu thiếu các du ngoc kép) trung bình vào m rượu ca trí tưởng tượng cá nhân, ở tuổi năm mươi, hóa ra là mt quá trình khó hơn nhiều so với nó đã từng diễn ra ở châu Âu vào thi trai tr ca tôi khi năng lc cm th và kh năng ghi nh đương đnh cao tt yếu. Nhng cun sách khác xen ngang. Mt đôi ln, tôi đã đnh đt tập bn tho dở dang và đã mang Juanita Dark ca tôi xa ti tn chiếc bóng ca cái lò đt rác đng xiêu vo trên thảm c trinh trng, thì lúc đó tôi b chn li bi ý nghĩ rng oan hồn cun sách b thiêu hy s ám các tài liu ca tôi cho đến khi tôi chết.

Mùa hè nào v tôi và tôi cũng đi săn bắt bướm. Các mu vt được ký thác vào các cơ quan khoa hc, gi d như Bo Tàng Đng Vt Hc Đi Sánh Harvard hay b sưu tầm ca Đi Hc Cornell. Các nhãn ghi nơi tìm thy mu vt được ghim dưới nhng con bướm này s rt hu ích cho hc gi nào đó thế k hai mươi mt có s thích vi tiu s bí him. Ti các tng hành dinh ca chúng tôi như Telluride, bang Colorado; Afton, bang Wyoming; Portal, bang Arizona; và Ashland, bang Oregon, cun Lolita y li được tôi hăng say viết tiếp vào nhng chiều muộn hoc nhng ngày nhiu mây. Tôi kết thúc vic chép bn tho qua ch viết thường vào mùa xuân năm 1954, v tôi gõ li nó thành ba bn bng máy đánh ch, và ngay sau đó tôi bt đu tìm kiếm nhà xut bn.

Lúc đu, theo tư vn ca mt ông bn cũ cẩn thn, tôi đã nhún nhường đến mc đt điu kin xut bn cun sách dưới bút danh khác. Tôi không biết mình s có lúc nào đó thy ân hn là ít lâu sau, do hiu rõ rng cái mt n có th d dàng đ l nguyên c ca chính tôi như thế nào, tôi li quyết đnh ký tên tht cho Lolita. Bn nhà xut bn M — W, X, Y, Z — ln lượt được tôi chào bn đánh máy và đưa cho những người biên tập ca h liếc qua nó, đã b sc do Lolita đến mc mà thm chí ngài F.P., ông bn cũ cẩn thn ca tôi, cũng không tính đến.

Mc dù đúng là Âu Châu c đi, và tn cho đến thế k mười tám (nhng ví d d thy đến t nước Pháp), s dâm tc c ý đã không mâu thun vi nhng giây phút lóe sáng trong hài kch, hoc văn chương châm biếm đy khí lc, hoc thm chí cm hng ca mt thi s tài hoa trong tâm trng phóng đãng, và cũng đúng là trong thi hin đi thì thut ng “văn hóa phm khiêu dâm” có nghĩa là tm thường, hám li, với nhng quy tc k chuyn cht ch nht đnh. Hành đng khiêu dâm cn cho bt cp vi li l sáo rng bi l mi kiu tn hưởng khoái cm m hc phi b thay thế trn vn bi s kích dc đơn gin, th đòi hi li l truyn thng đ tác đng trc tiếp lên bnh nhân. Người sáng tác văn hóa phm khiêu dâm phi tuân th các quy tc cứng nhắc cũ k đ làm cho bnh nhân ca anh ta được bao bc bi cùng mt bu không khí tha mãn an toàn, bu không khí vn dĩ quen thuc vi nhng người hâm mộ truyn trinh thám — nhng truyn mà trong đó, nếu bn không coi chng, k sát nhân tht s có th lại thành ra là, trước s phn ut ca người hâm m, tính đc đáo ngh thuật (ai mà li mun, t như, mt truyn trinh thám chẳng có đến dù ch mt cuc đi thoi?) Bi vy, trong các tiu thuyết khiêu dâm, hành đng phải b gii hn trong s giao cu gia nhng li khuôn sáo. Phong cách, cu trúc, tính hình tượng không khi nào được phép làm sao lãng đc gi khi thú tính đm m ca anh ta. Cun tiu thuyết phi bao gm s thay thế luân phiên nhng cnh nhc dc. Các đon văn gia phi được rút li thành nhng đường khâu cm xúc, nhng cu ni hp lý có thiết kế ti gin, nhng gii thích và trình bày vắn tắt, mà đc gi hu như chc chn s b qua nhưng phi được biết là chúng có tn ti đ không cm thy b la di (do bị nhi s t l thói ca các chuyn thn tiên “có tht” thi thơ u). Hơn na, nhng cnh nhc dc trong cuốn sách phi bám theo mt mch tăng dn, vi nhng biến th mi, nhng phi hp mi, nhng sinh thực khí mi, cùng s gia tăng đu đn s lượng người tham gia (trong mt v kch ca Sade, h còn gi c gã làm vườn vô), và bi vy mà phn kết thúc cun sách phi tha ma tri thc dâm dt hơn hẳn mấy chương đầu.

Vài k thut phn đu Lolita (gi d như Nht Ký ca Humbert) làm cho một số người trong số các đc gi đu tiên ca tôi tưởng lầm rng đây là mt thứ dâm thư. H trông ch vào chui gia tăng các cnh gi tình; khi nhng cái này ngưng li, đc gi cũng ngưng đc luôn, và cm thy bun chán và tht vng. Tôi ng rng điu này là mt trong nhng lý do ti sao không phi c bn hãng chu đc bn đánh máy y đến cui. Dù h có nhận thy nó khiêu dâm hay không thì điu đó cũng chng làm tôi quan tâm. S khước t ca h vi vic mua sách không da trên cách tôi x lý ch đ mà da trên chính ch đ, bi có đến ít nht là ba ch đ tuyt đi cm kỵ, đến mc hu hết các nhà xut bn M đu lo ngi. Hai cái kia là: mt cuc hôn nhân Nh-Trng thành công trn vn và m mãn đã đơm hoa kết trái thành con đàn cháu đng; và k vô thn tuyt đi được sng trọn đi sung sướng và có ích, ri chết trong lúc đang ng, th 106 tui.

Vài phn ng hết sức tc cười: mt người biên tập gi ý là hãng ca anh ấy có th cân nhc chuyn xut bn nếu như tôi biến nàng Lolita ca tôi thành cu bé tuổi mười hai và đ cu ta b d bi Humbert, mt gã nông dân, trong chung gia súc, gia phong cnh thê lương và cn ci, mi điu này được trình bày bng các câu văn ngn, mnh, “hin thc” (“Hn cư xử điên khùng. Tôi nghĩ là chúng ta ai cũng cư xử điên khùng. Tôi nghĩ Chúa cũng cư xử điên khùng.” Và những thứ tương tự như vậy.) Mc dù mi người chắc đã biết là tôi ghét cay ghét đng các biu tượng và phúng d (mt phn do mi thù cũ ca tôi vi tà phép ca Freud và mt phn do ni kinh tm ca tôi vi s khái quát được sáng chế bi nhng người sáng tác văn chương thn thoi và nhng nhà xã hi học), thế nhưng một người biên tập lẽ ra rất sáng dạ đã đọc lướt qua Phần Một rồi miêu tả Lolita như “Âu Châu già dắt nước Mỹ trẻ vào đời trụy lạc,” trong lúc một tên ba chớp ba nháng khác li trông thy trong nó “nước M tr dt Âu Châu già vào đi try lc.” Ch nhà xut bn X, người có các v c vn chán Humbert đến mức h chưa hề đc được quá na cun sách, đã hồn nhiên biên cho tôi là Phn Hai dài quá. Mt khác, ch nhà xut bn Y li ly làm tiếc, rng chẳng có ai tử tế trong cun sách. Ch nhà xut bn Z bo, nếu ông ta in Lolita, chắc ông ta với tôi s vào tù.

Không có nhà văn nào mt quốc gia t do li cho rng h phi quan tâm đến ranh gii chính xác gia gi cm và gi dc; đó là điu hết sc vô lý; tôi ch có th ngưỡng m ch không th tranh đua về đ chính xác trong cách nhìn ca nhng người to dáng các đng vt hu nhũ tr đp đ chp nh đăng lên tp chí sao cho toàn b đường vin c áo ch va đ thp đ khơi gi mt tiếng cười thm ca tay bưởng trưởng và va đ cao đ không làm ông bưu cc trưởng phi nhăn mt. Tôi cho là, vn tn ti nhng đc gi thy hưng phn vi s hin din các li l ch búa trong các tiu thuyết khng l và sáo rng đến tuyt vng, những thứ được đánh máy bng ngón tay cái ca nhng k tm thường cương cng và được đánh giá là “có nh hưởng ln” và “ni bt” bi bọn phê bình bi bút. Có nhng linh hn lịch thiệp tuyên b Lolita vô nghĩa do nó chẳng dy h được bt c điu gì. Tôi không phi đc gi mà cũng không phi nhà văn th loi văn chương hư cu ra v mô phm, và, bt chp xác nhn ca John Ray, Lolita chng có bài hc nào đi cùng. Vi tôi thì mt tác phm hư cu ch tn ti trong chng mc nó cho tôi cái mà tôi s gi huch tot ra là khoái cm thm m, đó là cm giác được — bằng cách nào đó, ở nơi nào đó — kết nối với nhng trng thái khác ca s tn ti, nơi ngh thut (tính hiếu kỳ, sự dịu dàng, lòng nhân hu, nim hoan lc) là tiêu chun. Không có nhiu cun sách như vy. Tt c nhng cun còn li hoc là lá ci thi thượng hoc là nhng th vn được vài người cho là Văn Chương Ý Tưởng, nhng th mà trong rt nhiu trường hp li chính là lá ci thi thượng cô li thành các khi thch cao khng l được truyn cn thn t đi này qua đi khác cho tới khi có người nào đó xông lên vi cây búa và th làm mt choác ra trò lên Balzac, lên Gorki, lên Mann.

Li cáo buc khác mà vài đc gi áp đt lên Lolita là nó chng M. Đây là cái làm tôi đau hơn nhiu so vi li buộc ti ngu ngc v s đi bi. Nhng cân nhc v đ sâu và viễn cảnh (một thảm cỏ ngoại thành, một thảo nguyên vùng núi) khiến cho tôi dựng được một số bối cảnh Bắc Mỹ. Tôi cần một môi trường tạo được sự phấn khích nhất định. Và chẳng có gì tạo được sự phấn khích nhiều hơn thói thô b phàm tc. Nhưng, liên quan đến thói thô b phàm tc thì không có s khác bit căn bn nào gia phong tc tp quán ca Cu Thế Gii và Tân Thế Gii. Bt c người vô sn nào t Chicago cũng có th thành nhà tư sn (theo nghĩa ca Flaubert), y như một công tước Anh. Tôi la chn motel M thay vì khách sn Thy S hoc nhà tr Anh ch vì tôi c gng tr thành mt nhà văn M và ch đòi hi đúng nhng quyn li mà các nhà văn M khác vn được hưởng. Mt khác, to vt Humbert ca tôi là người nước ngoài và k vô chính ph, và có rt nhiu th, ngoài vn đ nymphet, mà tôi không đng ý vi ông ta. Và mọi đc gi Nga ca tôi đều biết rng các cựu thế gii ca tôi — Nga, Anh, Đc, Pháp — cũng kỳ quái và ch quan ht như tân thế gii ca tôi.

Vì s rng tuyên b ngn ngn mà tôi đưa ra đây có vẻ như s giãi bày nhng ni hn lòng nào đó, nên tôi buộc phi vi vã b sung rng, ngoài nhng thng chã đc bn đánh máy Lolita hoc n bn Olympia Press ca nó theo tinh thn “Sao ông ấy li phi viết nó nh?” hay “Sao tôi nên đc v bọn điên này nh?” thì vn có không ít người, khôn ngoan, nhy cm, vng vàng, hiu sách tôi tt hơn nhiu so vi tôi có th gii thích cơ chế ni ti ca nó tại đây.

Tôi dám nói rằng, mọi nhà văn nghiêm túc đều nhận thức về ấn bản sách này hay ấn bản sách khác của ông ta như một sự hiện diện ấm lòng thường trực. Ánh sáng dẫn đường của nó cháy đều ở nơi nào đó trong tầng hầm và chỉ một đụng chạm khẽ khàng nhất tác động lên bộ ổn nhiệt bí mật của ông ta sẽ lập tức làm ngấm ngầm bùng lên làn hơi m quen thuc. S hin din này, ánh sáng rc r này ca cun sách, mt chn xa xôi bt c lúc nào cũng đến được, là cm giác vô cùng thân thiết, và cun sách càng trùng khp chính xác hơn vi sắc màu và đường viền được mường tượng trước ca nó thì nó càng ta sáng rng hơn và đu hơn. Nhưng thm chí như vy, thì vn có nhng nơi chn nht đnh, nhng con đường ph, nhng thung lũng ưa thích, nhng nơi tác gi gi nh li mt cách thiết tha hơn và thưởng thức mt cách dịu dàng hơn phn còn li trong cun sách ca ông ta. Tôi không đc li Lolita t khi tôi sa cha xong bn in th vào mùa xuân năm 1955, nhưng gi đây tôi thy nó vn là mt hin din d chu như th nó lặng lẽ lơ lửng quanh nhà ta mt ngày mùa hạ mà người ta biết chc là ngi sáng sau sương mù. Vậy nên những khi tôi nghĩ về Lolita, dường như tôi luôn lựa được cho khoái cảm đặc biệt của mình những hình ảnh thí dụ như ngài Taxovich, hoặc tờ danh sách lớp của trường trung hc Ramsdale y, hoc Charlotte đang nói “không thm nước,” hoc Lolita, như trong nhng thước phim quay chm, đang tiến v hướng các tặng phẩm ca Humbert, hoc nhng bc nh trang hoàng tng áp mái được cách điu hóa ca Gaston Godin, hoc ông th ct tóc Kasbeam (người làm tôi tn mt mt tháng làm vic), hoc Lolita đang chơi tennis, hoc bnh vin tại Elphinstone, hoc Dolly Schiller nht nht, mang thai, đáng yêu, bt kh vãn hi, đang hp hi Gray Star (th đô cun sách), hoc nhng tiếng leng keng t th trn dưới thung lũng vng lên con đường đèo (mà trên đó tôi đã bt được con bướm cái đu tiên thuc ging Lycaeides sublivens Nabokov). Đây là h thn kinh ca tiu thuyết. Đây là các đim bí mt, các ta đ trong tim thc mà da trên chúng cun sách này đã được đ nên — dẫu tôi nhn thc được rt rõ ràng rng nhng cnh này cnh khác s b đc lướt qua hoc không đ ý đến, hoc thm chí chng bao gi được đng đến, bi nhng k bt đu đc cun sách dưới n tượng rng nó là cái gì đó ta ta nhưHi Ký ca một Kỹ Nữ” hoc “Les Amours de Milord Grosvit.” Vic cun tiu thuyết ca tôi có hàm cha nhiu ám ch khác nhau đến ham mun sinh lý ca mt đi try là hoàn toàn chính xác. Nhưng rt cuc thì tt c chúng ta không phi tr con, không phi các phm nhân tht hc v thành niên, không phi các nam sinh trường ni trú Anh Quc, nhng k sau mt đêm buông th đng tính li phi chu đựng cnh ngược đi là đc các tác gi c đin trong những phiên bn đã b sàng lc.

Tht tr con nếu nghiên cu mt tác phm hư cu đ thu lượm tin tức v mt quốc gia hoc v mt tng lp xã hi hoc v tác gi. Tuy nhiên, mt trong s rt ít bn thân ca tôi, sau khi đc Lolita, đã t ra lo lng mt cách chân thành rng tôi (tôi!) đã phi sng “gia nhng k chán ngy như vy” — trong khi s bt tin duy nht mà tôi tht s phi tri qua là sng tại xưởng ca mình gia nhng cái chân cái tay b vt b và phn thân dang dở.

Sau khi Olympia Press, ở Paris, xuất bản cuốn sách, một nhà phê bình Mỹ đưa ra giả thuyết rằng Lolita là hồ sơ về chuyện tình của tôi với truyện tình. Việc thay “Anh ngữ” vào chỗ “truyện tình” sẽ làm cho công thức tao nhã này đúng hơn. Nhưng ở chỗ này, tôi thấy giọng mình đã lên tới cao độ quá mức ghê tai. Chẳng ai trong số những người bạn Mỹ của tôi từng đọc các cuốn sách tiếng Nga của tôi và vì vậy mọi đánh giá về sức mạnh trong các cuốn tiếng Anh của tôi sẽ không thể minh bạch. Bi kịch cá nhân của tôi, cái không thể, và quả thật không nên, trở thành mối quan tâm của bất cứ ai, là việc tôi phải từ bỏ tiếng Nga, đặc ngữ tự nhiên, không bị hạn chế, giàu có, và vô cùng dễ sai khiến của tôi để dùng thứ tiếng Anh hạng hai, thiếu vắng mọi món đạo cụ — gương ngăn, phông màn nhung đen, truyền thống và các liên tưởng ngầm định — mà ảo thuật gia bản xứ, vạt áo đuôi tôm tung bay, có thể dùng một cách diệu kỳ để vượt qua được di sản cha ông theo lối của mình.

12 tháng Mười Một năm 1956