24 September 2013

Chim Sơn Ca Ba Tư (Persian bubble bird)



Trích đoạn chương 26, phần II, Lolita:

Wine, wine, wine, quipped the author of Dark Age who refused to be photographed, may suit a Persian bubble bird, but I say give me rain, rain, rain on the shingle roof for roses and inspiration every time.

Chú thích:

Persian bubble bird:  bulbul, a bird of the thrush family, is called the nightingale of the East.


14 September 2013

Merman

Other things of hers were harder to relinquish. Up to the end of 1949, I cherished and adored, and stained with my kisses and merman tears, a pair of old sneakers, a boy’s shirt she had worn, some ancient blue jeans I found in the trunk compartment, a crumpled school cap, suchlike wanton treasures. Then, when I understood my mind was cracking, I collected these sundry belongings, added to them what had been stored in Beardsley—a box of books, her bicycle, old coats, galoshes—and on her fifteenth birthday mailed everything as an anonymous gift to a home for orphaned girls on a windy lake, on the Canadian border.

Trích chương 25, phần II, Lolita.









12 September 2013

Gagoon

Lolita Bản Dịch Tiếng Việt


Trích đoạn trong chương 25, Lolita:

One day I removed from the car and destroyed an accumulation of teen-magazines. You know the sort. Stone age at heart; up to date, or at least Mycenaean, as to hygiene. A handsome, very ripe actress with huge lashes and a pulpy red underlip, endorsing a shampoo. Ads and fads. Young scholars dote on plenty of pleats—que c’était loin, tout cela! It is your hostess’ duty to provide robes. Unattached details take all the sparkle out of your conversation. All of us have known “pickers”—one who picks her cuticle at the office party. Unless he is very elderly or very important, a man should remove his gloves before shaking hands with a woman. Invite Romance by wearing the Exciting New Tummy Flattener. Trims tums, nips hips. Tristram in Movielove. Yessir! The Joe-Roe marital enigma is making yaps flap. Glamourize yourself quickly and inexpensively. Comics. Bad girl dark hair fat father cigar; good girl red hair handsome daddums clipped mustache. Or that repulsive strip with the big gagoon and his wife, a kiddoid gnomide. Et moi qui t’offrais mon génie … I recalled the rather charming nonsense verse I used to write her when she was a child: “nonsense,” she used to say mockingly, “is correct.”

Theo The Annotated Lolita:

Gagoon is a portmanteau of gag, goon, and baboon, while gnomide draws on the common meaning of gnome (dwarf) and combines its original meaning (from the Greek: a general maxim, a saying) with the nearly synonymous bromide (a tiresome, commonplace person; a hackneyed expression). Kiddoid is also H.H.’s coinage. Because the -oid suffix (resembling, having the form of) is used in scientific terms formed on Greek words, its incongruous usage here becomes humorous (e.g., anthropoid; H.H.’s word is defined as “genus of kid”).

11 September 2013

Magic Lantern

Except for the Rev. Rigor Mortis (as the girls called him), and an old gentleman who taught non-obligatory German and Latin, there were no regular male teachers at Beardsley School. But on two occasions an art instructor on the Beardsley College faculty had come over to show the schoolgirls magic lantern pictures of French castles and nineteenth-century paintings. I had wanted to attend those projections and talks, but Dolly, as was her wont, had asked me not to, period. I also remembered that Gaston had referred to that particular lecturer as a brilliant garçon; but that was all; memory refused to supply me with the name of the chateau-lover.


Lolita Bản Dịch Tiếng Việt
Máy chiếu

Lolita Bản Dịch Tiếng Việt
Máy Chiếu

Lolita Bản Dịch Tiếng Việt
Một buổi chiếu hình


27 August 2013

Erlkönig

Lolita Bản Dịch Tiếng Việt

ErlkönigErlking
von J.W. GoetheTranslation by Hyde Flippo

Wer reitet so spät durch Nacht und Wind?Who rides so late through the night and wind?
Es ist der Vater mit seinem Kind;It's the father with his child;
Er hat den Knaben wohl in dem Arm,He has the boy safe in his arm,
Er faßt ihn sicher, er hält ihn warm.He holds him secure, he holds him warm.
«Mein Sohn, was birgst du so bang dein Gesicht?» –“My son, what makes you hide your face in fear?” –
Siehst, Vater, du den Erlkönig nicht?Father, don't you see the Erlking?
Den Erlenkönig mit Kron und Schweif? –The Erlking with crown and flowing robe? –
«Mein Sohn, es ist ein Nebelstreif.» –“My son, it's a wisp of fog.” –
«Du liebes Kind, komm, geh mit mir!“You dear child, come along with me!
Gar schöne Spiele spiel' ich mit dir;Such lovely games I'll play with you;
Manch bunte Blumen sind an dem Strand,Many colorful flowers are at the shore,
Meine Mutter hat manch gülden Gewand.»My mother has many a golden garment.”
Mein Vater, mein Vater, und hörest du nicht,My father, my father, and do you not hear
Was Erlenkönig mir leise verspricht? –What the Erlking promises me so softly? –
«Sei ruhig, bleibe ruhig, mein Kind;“Be quiet, stay quiet, my child;
In dürren Blättern säuselt der Wind.» –In the dry leaves the wind is rustling.” –
«Willst, feiner Knabe, du mit mir gehn?“Won't you come along with me, my fine boy?
Meine Töchter sollen dich warten schön;My daughters shall attend to you so nicely.
Meine Töchter führen den nächtlichen Reihn,My daughters do their nightly dance,
Und wiegen und tanzen und singen dich ein.»And they'll rock you and dance you and sing you to sleep.”
Mein Vater, mein Vater, und siehst du nicht dortMy father, my father, and do you not see over there
Erlkönigs Töchter am düstern Ort? –Erlking's daughters in that dark place? –
«Mein Sohn, mein Sohn, ich seh es genau:“My son, my son, I see it most definitely:
Es scheinen die alten Weiden so grau.»It's the willow trees looking so grey.”
«Ich liebe dich, mich reizt deine schöne Gestalt;“I love you; I'm charmed by your beautiful form;
Und bist du nicht willig, so brauch ich Gewalt.»And if you're not willing, then I'll use force.”
Mein Vater, mein Vater, jetzt faßt er mich an!My father, my father, now he's grabbing hold of me!
Erlkönig hat mir ein Leids getan! –Erlking has done me harm! –
Dem Vater grausets, er reitet geschwind,The father shudders, he rides swiftly,
Er hält in Armen das ächzende Kind,He holds in (his) arms the moaning child.
Erreicht den Hof mit Mühe und Not;He reaches the farmhouse with effort and urgency.
In seinen Armen das Kind war tot.In his arms the child was dead.

Lolita Bản Dịch Tiếng Việt


Chúa rừng 
(Dịch thơ: Apomethe)

Ai cưỡi ngựa muộn màng giữa đêm khuya và gió? 
Đó là người cha và đứa con trai 
Ông giữ nó trong vòng tay mạnh mẽ 
Truyền hơi ấm và ôm sát bên mình 

"Con trai ta, ai khiến con phải sợ" 
"Cha không thấy sao, chính Chúa rừng 
Với vương miện cùng chiếc áo choàng đen" 
"Kìa con trai, chỉ là một màn sương" 

"Này cậu bé, hãy đến đây với ta 
Ta sẽ chơi cùng ngươi một trò vui 
Những bông hoa đầy màu sắc trên bãi biển 
Mẹ của ngươi sẽ có những bộ váy bằng vàng" 

"Cha ơi cha, chẳng lẽ không nghe thấy 
Những lời hứa ngọt ngào của Chúa rừng?" 
"Yên lặng nào, hãy yên lặng con trai 
Chỉ là những lá cây xào xạc trong gió" 

"Nào bé ngoan, có đến với ta không? 
Các em ta sẽ chăm sóc ngươi cẩn thận 
Và mở đầu vũ hội của buổi đêm 
Họ sẽ nhảy và hát ru ngươi ngủ 

"Cha ơi cha, chẳng lẽ không nhìn thấy 
Những em gái Chúa rừng trong bóng đêm" 
"Ôi con trai ta, ta đang nhìn rất rõ 
Những cây cỏ già xám trong đêm" 

"Ta yêu ngươi, và bị quyến rũ bởi sắc đẹp của ngươi 
Và nếu ngươi không đồng ý, ta sẽ dùng vũ lực" 
"Cha ơi cha,ông ấy đang bắt con 
Chúa rừng làm con đau" 

Người cha rùng mình và cưỡi ngựa như bay 
Trong tay ôm đứa trẻ đang rên rỉ 
Về đến nhà với sự khẩn trương và cố gắng 
Đứa trẻ đã chết trong tay ông


Erlkönig Bài thơ thể ballad của Goethe

Thơ của Goethe bắt đầu bằng việc một người cha mang theo đứa trẻ trở về nhà. Bài thơ ban đầu miêu tả việc đứa bé bị chết bởi một căn bệnh lạ, và nó đã nhìn thấy cái chết qua trí tưởng tượng của mình. Và xuất phát từ đó, bài thơ có khuynh hướng ngày càng đen tối, và kết thúc bằng cái chết của đứa trẻ. 

Câu chuyện là có thật khi Goethe đến thăm một người bạn vào lúc đêm tối, trong màn đêm có một bóng đen ôm một vật trong tay phi như bay qua cổng. Ngày hôm sau nhà thơ và người bạn được kể lại rằng họ đã nhìn thấy một người người nông dân mang đứa con bị bệnh đến bác sĩ. Tình tiết này đã là nguồn cảm hứng cho bài thơ.

Nabokov đã sử dụng ý thơ này trong chương 22, phần II, Lolita:

With a heterosexual Erlkönig in pursuit, thither I drove, half-blinded by a royal sunset on the lowland side and guided by a little old woman, a portable witch, perhaps his daughter, whom Mrs. Hays had lent me, and whom I was never to see again.



25 August 2013

Saguaro




Vùng hoang mạc châu Mỹ có loại cây xương rồng khổng lồ, có tên là saguaro, nặng đến 6 tấn, có tên khoa học là Carnegiea gigantea, có thể cao đến 20m, tên thường gọi của nó (saguaro) bắt nguồn từ tiếng Mayo.

Vỏ ngoài của loài cây khổng lồ này có màu xanh, được phủ kín bằng sáp nhựa cây làm cho cây có khả năng giữ nước. Mưa rất hiếm khi xảy ra trong sa mạc. Đôi khi một nửa lượng mưa của cả năm rơi trên sa mạc chỉ trong một đêm, saguaro biết lợi dụng từng giọt mưa nó nhận được để có thể duy trì cuộc sống trong những ngày khô hạn kéo dài.

Rễ cây xương rồng xòe rộng để hứng nước mưa như một cái lưới khi nước thấm vào mặt đất khô cằn. Những cái rễ liên tục hút nước dưới đất sâu. Một trận mưa kha khá có thể cung cấp cho cây saguaro một lượng nước đủ để tồn tại trong 4 năm hạn hán.

Tuy nhiên, nếu gặp trận mưa lớn, kéo dài thành một trận lụt lớn, vì không hề có hệ thống ngưng thấm nước, cây xương rồng saguaro sẽ tiếp tục hút nước cho đến khi bị vỡ tung ra.

Saguaro mọc ở cao độ từ 200 đến 1.200 m bên những dốc hay nơi bằng phẳng mà không bị ứ đọng nước. Loài cây này trưởng thành rất chậm chạp: Năm đầu độ 1cm. Mười lăm năm kế chỉ đến 2.5cm. Từ 40 đến 50 năm sau, cao độ 3.3m. Từ 75 đến 100 năm bắt đầu mọc nhánh, khi đó cây cao khoảng 7m và đồng thời cũng bắt đầu trổ hoa. Thậm chí có cây còn mọc dài tới tận 15 m.

Với những nhánh cây bò ra mọi phía, cây xương rồng saguaro là một loại thực vật nặng nề và dễ dàng bị đổ rạp vì sức nặng của chính mình nếu không có một bộ gọng cứng cáp. Các tế bào cứng tạo thành một cái khung vững chắc ở thân cây, trợ giúp đắc lực cho cây có thể đứng vững. Vì thế loại cây khổng lồ này đã thích ứng tốt với môi trường khắc nghiệt vùng hoang mạc. Tuổi thọ trung bình của loài xương rồng khổng lồ này là 150 năm.

Loại cây này được nhắc đến trong chương 22, phần II, Lolita:

An additional, abominable, and perfectly gratuitous worry was lovingly prepared for me in Elphinstone. Lo had been dull and silent during the last lap—two hundred mountainous miles uncontaminated by smoke-gray sleuths or zigzagging zanies. She hardly glanced at the famous, oddly shaped, splendidly flushed rock which jutted above the mountains and had been the take-off for nirvana on the part of a temperamental show girl. The town was newly built, or rebuilt, on the flat floor of a seven-thousand-foot-high valley; it would soon bore Lo, I hoped, and we would spin on to California, to the Mexican border, to mythical bays, saguaro deserts, fatamorganas. José Lizzarrabengoa, as you remember, planned to take his Carmen to the Etats Unis. 

19 August 2013

Yêu Râu Xanh (Bluebeard)

Râu Xanh, trong tiếng Anh là Bluebeard, là nhân vật trong truyện cổ tích nổi tiếng cùng tên được xuất bản lần đầu năm 1697 của Charles Perrault, một nhà văn Pháp, tác giả của các câu truyện cổ tích nổi tiếng như Cô bé Lọ Lem, Người đẹp ngủ trong rừng...Truyện Râu Xanh viết về một nhà quý tộc hung bạo và người vợ tò mò của ông ta.

Lolita Bản Dịch Tiếng Việt


Tóm tắt:

Râu Xanh là nhà quý tộc giàu có nhưng lại bị người khác e ngại bởi ông ta có bộ râu xanh đáng sợ. Ông ta đã vài lần cưới vợ nhưng không ai biết những gì đã xảy ra với những người vợ này. Các cô gái trong vùng đều tránh né ông ta. Khi Râu Xanh đến thăm gia đình người hàng xóm và hỏi cưới một trong hai cô con gái, các cô đều hoảng sợ và tìm cách thoái thác. Nhưng cuối cùng ông ta cũng thuyết phục được cô gái út đồng ý. Sau lễ cưới cô út chuyển đến sống với Râu Xanh trong lâu đài của ông ta.

Chẳng bao lâu sau, Râu Xanh nói là mình phải đi xa một thời gian. Trước khi đi ông ta trao lại tất cả những chiếc chìa khóa của lâu đài cho người vợ mới, trong số chìa khóa đó, có một chiếc là chìa khóa của một căn phòng nhỏ dưới tầng hầm, mà ông ta cấm cô tuyệt đối không được mở trong bất cứ hoàn cảnh nào. Cô gái thề là sẽ không bao giờ đặt chân vào căn phòng đó. 

Thế nhưng gần như ngay sau khi chồng đi khỏi lâu đài, cô gái đã rất tò mò muốn được nhìn thấy những thứ trong căn phòng cấm, và bất chấp những lời cảnh báo từ Anne, người chị vừa đến thăm, cô vẫn bỏ rơi khách trong một bữa tiệc tổ chức ở nhà, để thỏa mãn sự tò mò bằng cách mở cánh cửa căn phòng.

Khi bước vào căn phòng cấm, cô phát hiện ra bí mật khủng khiếp: căn phòng nồng nặc mùi máu và kinh khủng hơn là tử thi của những người vợ cũ của chồng cô bị treo trên tường. Hoảng sợ, cô khóa cánh cửa lại, nhưng vì run sợ nên đánh rơi chìa khóa xuống vũng máu trên sàn, và máu dính vào chìa khóa, cô vội vàng chùi rửa nó, nhưng không hiểu sao không thể rửa sạch được. Cô kể về bí mật của chồng cho Anne nghe, và hai chị em dự định sẽ trốn khỏi lâu đài ngay hôm sau. Nhưng Râu Xanh bất ngờ trở về, nhìn thấy máu trên chìa khóa và ngay lập tức biết vợ mình đã thất hứa. Trong cơn giận dữ mù quáng ông ta dọa chặt đầu cô ngay tại chỗ. Cô gái van xin Râu Xanh cho cô mười lăm phút để đọc kinh. Ông ta ưng thuận, và cô liền tự khóa mình trên ngọn tháp cao nhất của lâu đài cùng với Anne. Họ chỉ còn biết chờ hai người anh trai đến cứu trong khi Râu Xanh, tay cầm kiếm, đang cố phá tung cánh cửa. Vào giây phút cuối cùng, khi Râu Xanh sắp tung ra đòn kết liễu thì những người anh trai xông vào lâu đài và giết chết ông ta trước khi ông ta kịp chạy trốn.

Người vợ thoát chết là người duy nhất thừa kế gia tài khổng lồ của Râu Xanh. Cô dùng một phần làm của hồi môn cho chị gái, một phần khác cho các anh trai và phần còn lại để cưới một người đàn ông tử tế, người khiến cô quên đi những kí ức tồi tệ về Râu Xanh.

18 August 2013

Báo Deseret News (Chương 22, phần II, Lolita)


Back at the usual rush came the ripe young hussy, reeking of urine and garlic, with the Deseret News, which her fair patient eagerly accepted, ignoring the sumptuously illustrated volumes I had brought.

Trích chương 22, phần II, Lolita. 







15 August 2013

Pinelog Cabin

Lolita Bản Dịch Tiếng Việt
Pinelog Cabin

Lolita Bản Dịch Tiếng Việt
Pinelog Cabin

Lolita Bản Dịch Tiếng Việt
Pinelog Cabin

Lolita Bản Dịch Tiếng Việt
Pinelog Cabin

The two-room cabin we had ordered at Silver Spur Court, Elphinstone, turned out to belong to the glossily browned pinelog kind that Lolita used to be so fond of in the days of our carefree first journey; oh, how different things were now!

Trích đoạn Chương 22, phần II, Lolita