10 August 2016
20 March 2016
Nghề Dịch Có Nhục Có Vinh
Trả lời phỏng vấn báo Văn Nghệ Công An số 281 ra ngày 17/03/2016
Chào dịch
giả Thiên Lương, ba năm trước anh được biết đến vì sự kiện phê bình bản dịch
Lolita và việc đạo chú thích của dịch giả Dương Tường và sau đó anh đã bỏ gần
hai năm ra dịch lại toàn bộ tác phẩm vĩ đại này của Nabokov, không biết hiện
nay anh còn tham gia vào công việc dịch nữa không?
Tôi vẫn dịch
các tác phẩm của Nabokov đấy chứ, đã dịch được vài chục truyện ngắn của ông ấy,
và khá nhiều trong số chúng đã được đăng lên các tờ báo lớn của VN. Hầu hết các
truyện ngắn tiếng Anh hay nhất của ông ấy, như “Dấu hiệu và Biểu hiệu”, “Chị em
nhà Vane”,… đã được tôi dịch và cho đăng báo. Nabokov là một trong số ít các
nhà văn bậc thầy của nhân loại, thật đáng tiếc là tác phẩm của ông hầu như chưa
được dịch ra tiếng Việt.
Nhận xét chung của anh về tình hình văn học dịch ở VN trong
3 năm qua?
Sau đợt phê
bình Lolita thì tôi cho là giới dịch giả bắt đầu phân hóa khá rõ rệt, thực ra sự
đoàn kết giả tạo trước đây theo kiểu bảo vệ nồi cơm của nhau là rất có hại cho
môi trường dịch thuật. Tuy nhiên, tôi cũng không ủng hộ việc những người viết lại
tấn công lẫn nhau. Chúng ta nên tôn trọng sự thật và chỉ sự thật mà thôi, ai dịch
sai quá nhiều thì vẫn nên bị lên án, không vì họ lớn tuổi hay họ là bạn bè mà
ta phải cố sống cố chết bênh vực. Kiểu tư duy làng xã bao che lẫn nhau, ai ra
sách thì cả đám kéo đến khen trả lễ như ăn cưới, chỉ kéo lùi mọi thứ, không
riêng lĩnh vực dịch. Còn về chất lượng sách dịch thì nói chung cuốn nào mà được
để ý đến thì chắc chắn là có vô số lỗi. Lâu lâu lại rộ lên các thảm họa dịch
thuật mới chẳng qua cũng chỉ do chúng được (hay là bị) công ty làm sách bỏ tiền
ra PR quá mạnh, nên chúng bị (hay được) mọi người chú ý đến mà thôi.
Anh nghĩ rằng độc giả VN may mắn hay không khi các tác phẩm
văn chương có giá trị của nước ngoài được chuyển ngữ rất nhiều trong thời gian
qua dù rằng chất lượng các bản dịch lại là vấn đề...?
Tôi nghĩ
không may mắn mà cũng chẳng xui xẻo gì, nói tóm lại là không ảnh hưởng gì nhiều
đến xã hội, vì văn chương bây giờ có được mấy ai đọc đâu? Dịch sai hay dịch
đúng thì cũng vậy. Một bản dịch thảm họa chỉ gây hại khi nó bán được vài chục
ngàn bản trở lên, chứ còn bán một vài ngàn bản, và đa phần trong đó cũng không
được ai đọc, thì nói chúng tốt hay xấu đều sai cả. Nói chung các bản dịch văn
chương ở VN, theo tôi, hầu hết là vô hại.
Theo anh thì để các bản dịch sai xuất hiện tràn lan trên kệ
sách mỗi nhà như vừa qua, lỗi tại ai? Dịch giả? Biên tập? Nhà sách? Hay chính
là độc giả cũng dễ dãi quá?
Thực ra tôi
không đồng ý với quan điểm cho rằng hiện nay có quá nhiều bản dịch sai, vì khi
nói thế thì ta mặc nhiên cho rằng ngày xưa có nhiều bản dịch đúng. Tuy nhiên,
các bản dịch thời xưa còn tệ hơn bây giờ nhiều. Cũng dễ hiểu thôi, làm sao ta
có thể dịch đúng được với các từ điển giấy rất kém cỏi và bất tiện, thiếu hoàn
toàn sự hỗ trợ của internet, của bạn bè nước ngoài, và thiếu cả trải nghiệm sống
ở nước ngoài? Chẳng qua thời xưa rất ít người có khả năng đọc ngoại ngữ, lại
càng ít người có được bản gốc trong tay, cho nên các dịch giả thời xưa muốn dịch
sao cũng được, miễn xuôi tai. Nói như một nhà văn VN, là nhiều dịch giả “đọc
không thông mà dịch rất thạo”. Tuy nhiên, xuôi tai và dễ đọc hoàn toàn không phải
là các tiêu chí để đánh giá chất lượng bản dịch, đặc biệt là các kiệt tác. Tôi
cho rằng tình hình dịch thuật hiện nay tuy có xấu nhưng cũng vẫn tốt hơn xưa. Nếu
có xấu hơn thì là do độc giả giỏi hơn thôi. Ngày nay dịch giả chịu áp lực rất lớn,
gần như họ phải làm việc trong một cái lồng kính trong suốt dưới ánh đèn cao áp
vậy.
Anh nghĩ để thay đổi được hiện trạng trên, cần có những động
thái gì từ xuất bản, từ biên tập và từ chính độc giả?
Dịch giả
đóng vai trò quyết định và tối hậu trong chất lượng bản dịch. Chẳng ai biên tập
được một bản dịch sai từ đầu đến cuối. Nhà sách thì thực ra phải lo lợi nhuận,
nhập giấy vào, bán giấy ra. Đa số độc giả thì có chịu đọc và có đọc được bản gốc
đâu mà biết bản dịch tốt hay tệ? Nói chung muốn có một nền dịch thuật tốt hơn
thì phải có các dịch giả giỏi hơn, mà muốn có dịch giả giỏi hơn thì phải có tiền
nhiều hơn. Người giỏi bao giờ cũng đổ vào các chỗ có thu nhập cao. VN không thiếu
người giỏi, thừa sức dịch tốt cả Nabokov, Proust, Kant, Hegel hay James Joyce,
nhưng vấn đề là hầu như chẳng ai giỏi mà lại đi làm khổ sai 2 năm để lấy 1000
đô la cả. Đó là vấn đề của làng dịch VN hiện nay!
Không phải ai cũng dễ dàng chấp nhận lời chê. Các dịch giả
nên có tâm thế như thế nào thì hợp lẽ khi tiếp nhận các luồng ý kiến khác nhau
từ độc giả của mình và từ chính các đồng nghiệp.
Tôi nghĩ dịch
cũng là một nghề như bao nghề khác, có nhục có vinh, tất nhiên cũng có những
tác phẩm rất khó dịch, có những tác giả cực kỳ khó dịch, và cần sự tôn trọng nhất
định với dịch giả nào dịch thành công những kiệt tác ấy, những văn hào vĩ đại ấy,
nhưng tuyệt đại đa số bản dịch khác chỉ là các sản phẩm hết sức bình thường
thôi. Tôi nghĩ các dịch giả nên có tâm thế chấp nhận phê bình, dẫu sao chăng nữa,
nếu ai phê bình được cuốn sách nào đó thì chí ít họ cũng đã đọc nó ít nhiều, vậy
là quý lắm rồi. Chứ còn vô số người viết ngoài kia chỉ mong được đọc, và thậm
chí phải bỏ cả tiền ra tự in sách đem tặng, mà không ai thèm đọc thì sao?
Dịch giả VN
hay phản ứng thái quá với sự phê bình, chẳng qua do họ hơi ảo tưởng về mình.
Nhưng, vài tỷ người mới có một Nabokov, một Tolstoi, hay một James Joyce, chứ đọc
và dịch sách họ thì thiếu gì người làm được? Đương nhiên dịch được và dịch đạt,
dịch hay, dịch nhã là những khái niệm khác nhau một trời một vực, nhưng đó lại
là câu chuyện khác! Và tôi nghĩ trong tình hình văn hóa bè cánh làng xã hiện
nay thì ở VN chúng ta chỉ có “dịch quen” và “dịch lạ” mà thôi.
1 February 2016
Cơn Giông
Vladimir Nabokov
Thiên Lương dịch
Tác phẩm đã đăng trong Tạp Chí Sông Hương số Tết Bính Thân
Nơi góc phố, dưới vòm
hoa đoan, một mùi hương ngào ngạt quấn lấy tôi. Những tảng sương mù đồ sộ dâng
lên trên trời đêm, và khi khoảnh sao cuối cùng bị nuốt chửng, thì ngọn gió mù
loà, che mặt bằng tay áo, lùa thấp theo phố vắng. Trong bóng tối nhập nhoạng,
trên cánh cửa sắt của tiệm cắt tóc, một chiếc khiên treo – chiếc thau vàng – chao
như quả lắc.
Về đến nhà, tôi bắt gặp ngọn gió đã đợi trong
phòng: nó sập mạnh khung cửa sổ – và vội vã thốc ngược lại khi tôi khép cánh cửa
sau lưng mình. Dưới cửa sổ phòng tôi có cái sân trong sâu hun hút, nơi đó, ban
ngày, những chiếc sơ mi, bị đóng đinh trên các dây phơi rực nắng, toả sáng
xuyên qua các bụi tử đinh hương, và từ dưới ấy thỉnh thoảng lại vọng lên những tiếng
sủa sầu muộn – giọng mấy người thu mua đồng nát ve chai; – ứ-ứ, – cây vỹ cầm tàn tật
nức nở; và, có lần, một phụ nữ tóc vàng béo ú tới, đứng ngay giữa sân, hát hay
đến nỗi các cô hầu, cúi cần cổ trần, nhoài cả người ra ngoài mọi cửa sổ, – sau đó, khi chị ta ngưng hát, mọi thứ
trở nên yên lặng khác thường; – chỉ nghe tiếng bà chủ nhà tôi, một mụ goá lôi thôi, đang thổn thức hỉ
mũi trong hành lang.
Giờ thì dưới ấy, màn
sương u ám ngột ngạt đang trương lên, – nhưng
kìa, ngọn gió mù loà, vừa bơ vơ luồn xuống đáy sâu, lại bắt đầu rướn lên trời, –
và đột nhiên – nó sáng mắt ra, lao vút lên và, trong những hố sâu màu hổ phách
bên bức tường đen ngòm đối diện, những bóng tay và bóng tóc tất tả tới lui, bắt
lại các khung cửa bay, sầm sập đóng chặt cửa sổ. Các cửa sổ vụt tắt. Và lập tức,
trong màn đêm tím thẫm, một tràng âm thanh trầm đục, tiếng sấm xa, bắt đầu vỡ
ra, lan rộng. Rồi mọi thứ lại lặng đi, như lúc chị hành khất ngừng hát, siết chặt
tay lên bộ ngực đầy.
Tôi thiếp đi trong sự
yên ả ấy, lử lả vì vui, một niềm vui mà tôi chẳng thể viết thành lời, – và giấc
mơ tôi chan chứa bóng hình em.
Tôi bừng tỉnh vì đêm vỡ
vụn. Ánh lấp lánh nhợt nhạt, cuồng dại bay ngang bầu trời, tựa chớp hồi quang của
chiếc nan hoa vĩ đại. Hết tiếng sét này đến tiếng sét khác xé toạc bầu trời. Mưa
rơi rào rạt nơi nơi.
Tôi say những rung động
xanh nhờ ấy, cái lạnh nhẹ buốt ấy. Tôi bước lên bậu cửa sổ ướt đẫm, hít không
khí siêu phàm, nó làm tim tôi ngân lên, như kính.
Càng lúc càng gần hơn, càng lúc càng kỳ vĩ hơn,
cỗ mã xa của nhà tiên tri rền vang theo những áng mây. Ánh sáng của sự điên rồ,
của những ảo cảnh nhức mắt, rọi tỏ cõi đêm, những mái dốc kim loại, những bụi tử
đinh hương cuống cuồng chạy trốn. Thần sấm, một ông khổng lồ tóc bạc, với bộ
râu bão táp bị gió vắt ngược qua vai, mặc bộ lễ phục phấp phới chói ngời, đứng,
ngả người về phía sau, trong cỗ mã xa ngùn ngụt cháy của mình, gồng tay ghìm lũ
chiến mã khổng lồ, lông đen huyền, bờm rực lửa tím. Chúng lao vùn vụt, chúng
phì bọt lóng lánh đì đùng, cỗ mã xa nghiêng ngả, và nhà tiên tri bối rối ghì
dây cương mà chẳng ăn thua. Gương mặt ông bị méo đi bởi gió và sự căng thẳng;
cơn lốc, thổi tung các nếp lễ phục, lột trần đầu gối vạm vỡ, – lũ chiến mã, tung bờm rực lửa, bay – mỗi lúc mỗi hăng – thấp dần, thấp dần
theo những áng mây. Và đây, với những tiếng sấm ầm ì, chúng tung vó qua một
nóc nhà sáng bóng, cỗ mã xa liệng đi, Elijah loạng choạng, và lũ chiến mã, điên
lên bởi đụng phải chất kim loại phàm trần, nhào ngược lên trời. Nhà tiên tri bị
quăng ra ngoài. Một bánh xe văng đi. Từ cửa sổ nhà mình, tôi thấy cái vành khổng
lồ rực lửa của nó lăn theo mái nhà, chệnh choạng tại bờ mái, và nhảy vào bóng tối
lờ mờ. Còn lũ chiến mã, kéo lê theo chúng cỗ mã xa bị lật nhào, nảy tưng tưng, đã
bay nhanh theo những áng mây cao ngất; tiếng rầm rầm tắt dần, và ngọn lửa giông
lụi tàn trong những vực thẳm tím than.
Thần sấm, vừa rơi lên
mái, nặng nề đứng dậy, đôi xăng đan của ông trượt đi; ông đạp chân vỡ cửa tò vò
mái nhà, càu nhàu, khoát tay túm lấy ống khói. Chầm chậm quay gương mặt tối sầm
lại, ông đưa mắt tìm kiếm thứ gì đó – hẳn là chiếc bánh xe vừa bung khỏi cái trục
vàng. Sau đó ông ngước lên, các ngón tay túm chặt bộ râu rối, cáu kỉnh lắc đầu –
chắc đây không phải lần đầu chuyện ấy xảy ra – và, hơi tập tễnh, bắt đầu thận
trọng leo xuống dưới.
Rời cửa sổ, hấp tấp và
hồi hộp, tôi khoác áo choàng và chạy xuống chiếc thang dốc dẫn thẳng đến sân
trong. Cơn giông đã qua, nhưng trời còn lất phất mưa. Phương đông ửng màu xanh
tái tuyệt đẹp.
Cái sân trong, nhìn từ trên cao thì như thể chìm trong bóng tối đặc quánh, thực ra ngập màn sương mỏng đang tan. Giữa sân, trên bãi cỏ thẫm màu vì ẩm ướt, một ông già gày guộc, lưng còng vai xo, mặc chiếc áo thụng đẫm nước mưa, đứng lẩm bẩm nói gì đó và nhìn quanh. Trông thấy tôi, ông giận dữ nháy mắt:
– Là ngươi hả, Elisha?
Tôi cúi đầu. Nhà tiên
tri chặc lưỡi, xoa xoa lòng bàn tay lên chỗ hói nâu nâu.
– Rớt đâu cái bánh. Tìm
cho ta đi.
Mưa đã tạnh. Trên nóc
nhà, những đám mây đồ sộ bừng bừng cháy. Xung quanh, trong không trung xanh mờ ngái
ngủ, các bụi cây, hàng rào, cái cũi chó lấp lánh lững lờ trôi. Chúng tôi mò mẫm
tìm rất lâu khắp các xó xỉnh. Ông già
luôn miệng càu nhàu, nâng gấu áo nặng trĩu, lội đôi xăng đan mòn vẹt lõm bõm
qua các vũng nước mưa, và trên đầu cái mũi to, xương xẩu của ông treo một giọt
nước lấp lánh. Gạt nhánh tử đinh hương thấp lè tè, tôi chợt để ý thấy, trên đống
rác, giữa kính vỡ, một bánh sắt mỏng, chắc là từ cái xe nôi trẻ con nào đó, ông
già thở phào nồng ấm ngay trên tai tôi và hấp tấp, thậm chí hơi thô bạo đẩy tôi
qua bên, chộp cái vành han gỉ ấy nhấc lên. Ông nháy mắt vui vẻ bảo tôi:
– Thì ra là lăn vào đây…
Rồi ông chằm chằm nhìn
tôi, nhíu cặp mày bạc, – và như thể chợt nhớ ra điều gì đó, oai nghiêm nói:
– Quay mặt đi nào, Elisha.
Tôi vâng lời. Thậm chí
còn nheo mắt lại. Đứng như vậy được chừng một phút, – và không giữ được lâu hơn.
Sân vắng tanh. Chỉ có
con chó già lông xù với cái mõm bạc màu thò đầu ra khỏi cũi và, giống như người,
ngước đôi mắt nâu sẫm đầy vẻ sợ hãi nhìn lên. Tôi ngẩng đầu. Elijah đã leo lên
mái nhà, chiếc vành sắt sáng lờ mờ sau lưng ông. Trên những ống khói đen, một
ráng mây sừng sững hiện lên như rặng núi loăn xoăn vàng cam, và sau nó là ráng
thứ hai, thứ ba. Tôi và con chó im bặt ấy đăm đắm dõi theo nhà tiên tri, vừa leo
đến đỉnh nóc nhà, bình tĩnh và thong thả đặt chân lên mây và tiếp tục trèo lên
trên, nặng nề bước theo ngọn lửa dịu êm.
Nắng rọi vào bánh xe của
ông, nó lập tức biến thành chiếc vòng vàng khổng lồ, – và chính Elijah dường
như lúc này cũng mặc bộ lễ phục lửa, hoà mình với những ráng mây thiên đường ấy,
bước mỗi lúc mỗi cao hơn, cao hơn nữa, cho đến khi biến vào lũng trời rực cháy.
Chỉ đến lúc đó thì con
chó già mới cất tiếng sủa khàn khàn ban mai, – và những gợn sóng lăn tăn trên bề
mặt sáng chói của vũng nước mưa; làn gió hiu hiu lay động các cây phong lữ đỏ
thắm trên ban công, đôi ba cửa sổ tỉnh giấc nồng, – và tôi chạy ra ngoài phố,
chân đi đôi dép ngủ kẻ ô ướt sũng, người mặc chiếc áo choàng phai màu, bắt kịp chiếc
tàu điện ngái ngủ đầu tiên, vừa chạy vừa khép vạt áo, và vừa cười hoài, vừa
hình dung, chỉ lát nữa thôi là sẽ tới nhà em và kể em nghe về vụ tai nạn trời
đêm ấy, về nhà tiên tri già cáu kỉnh ấy, vừa rơi xuống khoảng sân nhỏ của tôi.
24 November 2015
Một Góc Nhìn về Kinh Tế VN trong thế kỷ 20
Người Việt vốn âm tính, duy tình hơn duy lý, kiểu tư duy đó không hẳn đã hoàn toàn dở, tuy nhiên, trong một thế giới cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, thì ai muốn sống còn và thành đạt, thì nên học cách tư duy biện chứng, dựa trên số liệu và các phương pháp phân tích khoa học.
Có nhiều "ảo giác" vẫn luẩn quẩn trong tiềm thức người Việt, chẳng hạn như huyền thoại về một Sài Gòn Hòn Ngọc Viễn Đông, hay một miền Nam mà Lý Quang Diệu phải ao ước. Tuy nhiên, sự thực khác hẳn những gì người ta vẫn nghĩ. Singapore chưa bao giờ thua kém Sài Gòn, nếu như không muốn nói là luôn có GDP đầu người tối thiểu là gấp vài lần. Và, suốt những năm chiến tranh, GDP đầu người của miền Bắc VN thật ra cũng không thua miền Nam VN là bao, mặc cho các hỗ trợ kinh tế khổng lồ từ Mỹ cho miền Nam VN.
Trên đây là đồ thị dữ liệu về GDP trên đầu người của một số quốc gia châu Á từ năm 1913 cho đến năm 1970. Điều thú vị trong báo cáo này là nó bao gồm cả GDP của miền Nam và miền Bắc VN. Có thể thấy điểm nổi bật là sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản, và một sự thật đáng buồn là cả Bắc và Nam Việt Nam lúc nào cũng nghèo đói như nhau và ở mức thấp nhất trong các nước châu Á được nói đến trong báo cáo. Suốt một thời gian dài từ 1940 đến 1970, kinh tế cả hai miền không phát triển trong khi Nhật Bản và Hàn Quốc cùng các quốc gia khác đều tăng trưởng tốc độ cao. Chiến tranh đã làm cho đất nước tụt hậu ít nhất là 50 năm, tuy nhiên, không thể phủ nhận sự thật là từ đầu thế kỷ 19, Việt Nam đã là quốc gia rất, rất nghèo.
Sau 75, đất nước còn rơi vào khủng hoảng trầm trọng do cấm vận, do mất hết viện trợ từ Mỹ, Nga, Trung Quốc, do các sai lầm trong điều hành kinh tế, và chỉ mới thật sự phát triển, và phát triển rất tốt, từ 5h sáng ngày 4/2/1994, sau khi Mỹ bỏ cấm vận. Nhưng đó là một câu chuyện khác!
Nguồn:
Economic Divergence in East Asia:
New Benchmark Estimates of Levels of Wages and GDP, 1913-1970
Jean-Pascal Bassino* and Pierre van der Eng**
17 September 2015
Dịch Giả
Bản dịch Lolita này thuộc sở hữu của dịch giả Thiên Lương.
Mọi trích dẫn từ bản dịch phải được ghi cùng tên dịch giả.
Các tác phẩm Nabokov đã được Thiên Lương dịch và xuất bản:
2014. Lolita (ANDI).
2014. Dấu hiệu và Biểu hiệu (Tuổi Trẻ Cuối Tuần).
2014. Cảnh đời một quái vật kép (Sông Hương).
2015. Chị em nhà Vane (Văn Nghệ Quân Đội).
2015. Mối Tình Đầu (Nhà Văn & Tác Phẩm).
2016. Cơn Giông (Sông Hương).
2016. Mỹ Nhân Nga - Tổng tập truyện ngắn. Quyển 1. (Zenbook và nxb Văn Học).
2017. Mây, hồ, tháp - Tổng tập truyện ngắn. Quyển 2. (Zenbook và nxb Văn Học).
2017. Pnin (Zenbooks và nxb Văn Học).
Các tác phẩm Nabokov đã được Thiên Lương dịch và xuất bản:
2014. Lolita (ANDI).
2014. Dấu hiệu và Biểu hiệu (Tuổi Trẻ Cuối Tuần).
2014. Cảnh đời một quái vật kép (Sông Hương).
2015. Chị em nhà Vane (Văn Nghệ Quân Đội).
2015. Mối Tình Đầu (Nhà Văn & Tác Phẩm).
2016. Cơn Giông (Sông Hương).
2016. Mỹ Nhân Nga - Tổng tập truyện ngắn. Quyển 1. (Zenbook và nxb Văn Học).
2017. Mây, hồ, tháp - Tổng tập truyện ngắn. Quyển 2. (Zenbook và nxb Văn Học).
2017. Pnin (Zenbooks và nxb Văn Học).
25 August 2015
Câu chuyện về người thừa kế di sản James Joyce
Biên soạn từ nhiều nguồn.
Vào đêm tất niên 2012, Twitter feed của trang web Ubu, nơi lưu dữ liệu của các nghệ sĩ tiên phong, đã đăng đường dẫn đến một bài báo trên tờ The Irish Times về việc hết hạn bản quyền ở châu Âu với các tác phẩm của James Joyce, nhà văn vĩ đại người gốc Ireland, tác giả kiệt tác Ulysses.
![]() |
| James Joyce |
Đường dẫn đi cùng một thông điệp cộc lốc gửi tới cháu nội và cũng là người thừa kế duy nhất còn sống của Joyce: “Mẹ mày, Stephen Joyce bản quyền các tác phẩm của James Joyce tại EU chấm dứt giữa đêm nay”. Trong khi ngôn từ có thể cộc lốc một cách bất thường thì cảm xúc mà nó biểu lộ lại rất phổ biến.
Hành trình thành công sản của các tác phẩm chính của Joyce đã được tuyên truyền gần như khắp nơi, như thể nó là phiên bản sách về sự hủy diệt của một vì sao chết trong bộ phim Star Wars, với Stephen Joyce vào vai một tay Darth Vader trí thức nào đó bỗng nhiên không còn ở vị trí thở hồng hộc vào gáy những kẻ phiến loạn mê Joyce nữa.
Cuộc chiến bản quyền
Stephen Joyce, cháu nội của James Joyce (1882-1941), từ giữa những năm 1990 đã nắm quyền lực tối cao với một trong những di sản văn chương hiếu chiến và bế tắc nhất nhân loại (có lẽ chỉ có thể so bì với Paul, con trai của Louis Zukofsky, cho danh hiệu người thực hiện di chúc cứng rắn nhất thế giới văn chương).
Các học giả bị yêu cầu phải thanh toán các khoản phí bản quyền cắt cổ, và thường xuyên bị từ chối thẳng thừng quyền trích dẫn bất cứ thứ gì từ các tác phẩm của Joyce. Những toan tính sáng tạo các phóng tác theo Ulysses, Finnegans Wake, Dubliners, hay A portrait of the artist as a young man, hoặc những buổi đọc công cộng các cuốn sách này được điều đình với thái độ ngờ vực và thù địch.
Trong một bài báo năm 2006 trên tờ The NewYorker, D. T. Max đã xem xét mối quan hệ quá đỗi khó chịu giữa Stephen và những người hâm mộ Joyce. Max viết về việc Stephen, tại một hội nghị chuyên đề năm 1988 ở Venice nhân “ngày hội Bloom”, đã tuyên bố rằng ông ta đã “hủy mọi lá thư mà bà dì Lucia của ông ta [và cũng là cô con gái gây phiền muộn của James Joyce] viết cho ông và vợ ông” và rằng ông ta đã “làm điều tương tự với các bưu thiếp và điện tín gửi đến Lucia từ Samuel Beckett, người đã dan díu với bà hồi những năm 1920”.
![]() |
| Ulysses |
Những người hâm mộ James Joyce tổ chức lễ hội mang tên Bloom, nhân vật chính trong Ulysses, vào ngày 16-6 hằng năm. Năm 2004, kế hoạch tổ chức đợt đọc sách nơi công cộng với các trích đoạn từ Ulysses để kỷ niệm 100 năm ngày hội Bloom ở Dublin đã bị hủy bỏ, sau khi Stephen hăm dọa chính quyền Ireland rằng họ vi phạm bản quyền di sản. Thèm muốn phá rối của Stephen thật lố bịch và dường như không bao giờ có thể được thỏa mãn.
Nhằm mục đích vinh danh đại văn hào, Thư viện Quốc gia Ireland mở một khu mới để trưng bày nhiều tư liệu liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp James Joyce, bao gồm các chứng liệu, bản thảo, thư từ trao đổi giữa Joyce với người thân, bạn bè, nhà xuất bản, độc giả, vợ - kể cả những lá thư hoàn toàn riêng tư chứa đầy từ ngữ tục tĩu viết riêng cho vợ - và đặc biệt là, lần đầu tiên, bản thảo gốc của Ulysses được trưng bày.
Stephen đã cảnh cáo Thư viện Quốc gia Ireland rằng kế hoạch trưng bày bản thảo của ông nội là vi phạm bản quyền. (Thượng viện Ireland phải thông qua một điều luật bổ sung khẩn cấp để ngăn cản ông ta).
Sự phản kháng của Stephen đã làm cho Abbey Theatre phải hủy một buổi diễn vở Exiles của Joyce, và ông ta tuyên bố với Adam Harvey, một nghệ sĩ trình diễn đã thuộc lòng một phần Finnegans Wake với mong muốn thuật lại được chúng trên sân khấu, rằng anh ta “đã vi phạm” bản quyền di sản. Harvey sau này đã phát hiện ra rằng, theo luật Anh, Joyce chẳng có quyền dừng buổi biểu diễn của anh.
Cơ hội mới cho James Joyce
Người ta cho rằng các học giả chuyên nghiên cứu về Joyce sẽ bị ảnh hưởng nhiều hơn công chúng bởi những phô trương quyền lực thô bạo với di sản. Sam Slote, hiện đang dạy văn học Anh ở Trinity College Dublin, và cũng là một nhân vật xuất chúng trong lĩnh vực nghiên cứu về Joyce, chỉ ra rằng vẫn chưa rõ tình trạng của các ấn bản ra đời sau khi tác giả chết - chẳng hạn các bức thư và bản thảo, cũng như Stephen hero (một tiểu thuyết tự truyện dang dở mà Joyce sửa tận gốc như A Portrait) và Giacomo Joyce sẽ như thế nào.
Sean Latham, giáo sư tiếng Anh tại Đại học Tulsa, chủ bút “James Joyce tam cá nguyệt san”, cũng đồng quan điểm rằng đây là một cột mốc quan trọng, nhưng không báo hiệu “một thời kỳ phục hưng sôi nổi trong việc nghiên cứu Joyce. Chúng ta đã phục hưng việc này hàng thập kỷ rồi.
Sự thật là các tác phẩm chưa công bố - đáng kể nhất trong đó là các lá thư của Joyce - giờ đã hết bản quyền ở Mỹ, và dẫu sao thì cũng sẽ có những ảnh hưởng lớn đến tiểu sử ông ấy. Tôi đã biết rằng đang có vài dự án lên kế hoạch in ấn những lá thư này. Hiện nay chúng tôi đã có ba tập thư từ. Một dự án đã hoàn tất. Nhiều dự án đang triển khai.
Có những lá thư mà Stephen cương quyết từ chối công bố nên việc in ấn chúng sẽ thật sự quan trọng. Chúng ta sẽ có đủ loại chuyện mà cuối cùng chúng ta sẽ được phép kể về Joyce và cuộc đời ông ấy, những chuyện trước giờ chúng ta chưa thể kể”.
Ngay sau khi hết thời hạn bản quyền, các tác phẩm của James Joyce nhanh chóng xuất hiện với các ấn bản mới, các tuyển tập mới và các bản dịch mới. Sean nhắc đến các bản in mới của Finnegans Wake, Ulysses, A Portrait và Dubliners. Bản Ulysses tiếng ý sắp được in và Sam Slote đang chuẩn bị cho một phiên bản chú giải cặn kẽ về cuốn tiểu thuyết này.
Chắc chắn cũng có khá nhiều nhà xuất bản yếu kém và cơ hội sẽ lợi dụng tình trạng công hữu của các tác phẩm. Sam cho xem một bộ sưu tập đặc biệt gớm guốc - một hộp bọc giả da màu lục có nắp đậy, chứa vài tập sách nhỏ của Joyce cũng bọc da giả. Ulysses được in thành ba tập, và để cho các tập có kích thước bằng nhau, nhà sách đã chuyển chương dài nhất, Circe, vào một nơi khác hẳn trong cuốn sách.
Trong hộp còn chứa một thứ gì đó được gọi là “Tinh tuyển truyện ngắn”, mà hóa ra chính là Dubliners với các truyện ngắn được sắp xếp lại, một cách ngu ngốc, theo thứ tự bảng chữ cái. Chẳng có gì ngạc nhiên là Stephen Joyce đã trấn áp những thứ này một cách hung ác. “Tôi biết ít nhất là một người - Sam nói - đã mua hai cuốn này, một cuốn được ông ta giữ nguyên đai nguyên kiện do cho rằng chúng sẽ lên giá. Nhưng ta sẽ còn được thấy cả đống sách tương tự thế này”.
Sean Latham đồng ý rằng các ấn bản sách của Joyce sẽ không còn được quản lý chất lượng tốt như trước nữa, nhưng không cho rằng đó là một diễn biến tệ hại, và vạch ra rằng chẳng ai còn quan tâm mấy đến việc có rất nhiều ấn bản sách của Dicken và Shakespeare nữa.
Ngay Ulysses, kiệt tác quan trọng nhất của James Joyce, cuốn sách đứng đầu hàng loạt bảng xếp hạng các tiểu thuyết vĩ đại nhất của nhân loại, cũng có một lịch sử xuất bản lạ lùng. Ấn bản đầu tiên của nó xuất hiện vào năm 1922 tại Paris hiển nhiên là có cực nhiều sai sót, đó là điều không cần phải bàn cãi. Trước đấy, khi còn được đăng từng kỳ trên The Little Review, nhiều phiên bản của tác phẩm đã phải qua nhiều tay và tùy vào sở thích, ý đồ riêng của biên tập viên mà tác phẩm bị cắt xén, bị giản lược, hoặc sửa.
Trong thời gian này, Joyce tiếp tục biên tập, thêm thắt nhiều chi tiết khác vào tác phẩm. Do đó, giữa các văn bản có sự khác biệt đáng kể. Chính Joyce lúc còn sống cũng không khẳng định phiên bản nào đúng. Hậu quả là không có ấn bản nào được xem là thật sự hoàn hảo, khiến cho tác phẩm mãi là đề tài tranh cãi bất tận giữa các học giả.
Mặc dù vô cùng khó đọc, dài khoảng 265.000 từ và sử dụng từ vựng tới 30.300 từ, Ulysses vẫn được đánh giá rất cao. Năm 1998, một hội đồng tuyển chọn gồm 10 người - đa số là người Mỹ - của New York Modern Library, một nhà xuất bản thuộc Random House, đã cùng nhau chọn danh sách 100 tác phẩm viết bằng tiếng Anh có giá trị nhất của thế kỷ 20.
Joyce có hai tác phẩm được chọn: Ulysses đứng đầu bảng và A portrait of the artist as a young man hạng ba. The great Gatsby của Scott Fitzgerald hạng nhì và Lolita của Vladimir Nabokov đứng thứ tư. Quả thật, thứ tự xếp hạng các kiệt tác này có thay đổi trong những lần bình chọn khác nhau của các nhóm độc giả khác nhau, nhưng các tác phẩm của James Joyce luôn đứng ở vị trí đầu tiên.
Chính sự phức tạp liên quan đến bản thân nội dung Ulysses cũng như các phiên bản của nó phần nào làm cho việc Stephen hết sức cứng rắn khi điều đình về bản quyền di sản, càng khiến giới học thuật và những người hâm mộ James Joyce bất mãn với người thừa kế này.
Dẫu sao chăng nữa, việc chấm dứt thời hạn bảo vệ bản quyền các tác phẩm của James Joyce đã giúp cho cả các tác phẩm phái sinh rộng đường đến với công chúng, sẽ có nhiều người biết đến các kiệt tác của ông hơn, và đó cũng là sự tôn vinh cao quý nhất với một trong những nhà văn bậc thầy của nhân loại.
Bài đã đăng trên báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần
10 August 2015
Thông tin sai lệch – Mảnh đất màu cho thuyết âm mưu
Vụ thảm sát 6 người ở Bình Phước vừa qua đã gây nên sự căm phẫn và nỗi kinh hãi đến tột cùng trong dư luận, và việc phá án mau lẹ của các cơ quan công quyền phần nào làm yên lòng dân và đem lại niềm tin vào công lý và lẽ phải ở đời. Tuy nhiên, vẫn có không ít lời xì xầm, nhất là trên facebook, về điểm này điểm nọ liên quan đến vụ án.
Thực ra thì bản chất sự hoài nghi ấy không có gì mới. Trên thế giới, nhất là ở Mỹ, luôn có những người theo thuyết âm mưu (tiếng Anh: conspiracy theory). Những người này luôn tìm cách lý giải các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội theo hướng gán cho chúng những âm mưu bí mật của các thế lực ngầm khủng khiếp nào đó đằng sau.
Giả thuyết của họ luôn đi ngược lại các giải thích chính thống, và nó luôn nhằm đến việc buộc tội một nhóm người hay một tổ chức, hay một yếu tố siêu nhiên nào đó gây nên hay đứng đằng sau một sự kiện hoặc một hiện tượng gây ảnh hưởng lớn đến kinh tế chính trị xã hội. Các hiện tượng đó có thể đơn giản là một vụ giết người thảm khốc, một vụ khủng bố dã man, một hiện tượng thiên nhiên kỳ lạ, thậm chí là những “bí mật” hết sức hoang đường nào đó, chẳng hạn như người ngoài hành tinh đang làm việc cho các cơ quan chính phủ Mỹ.
Thuyết âm mưu khá được ưa thích, ngoài lý do người dân luôn hoài nghi vào những thứ họ không hiểu rõ, còn vì sự hấp dẫn ly kỳ của nó. Một trong các tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng có liên quan đến thuyết âm mưu là Fahrenheit 9/11 – bộ phim giành giải cành cọ vàng ở Cannes của đạo diễn Michael Moore. Bằng cách khéo léo sử dụng các tin tức chọn lọc, bộ phim này đã đưa ra những giả thuyết của riêng mình về Tổng thống Bush cùng những kẻ thực sự đứng sau vụ khủng bố 11.9. Đương nhiên là giả thuyết này khác xa với những gì chính quyền Mỹ vẫn công bố.
Ngoài ra, bất chấp các bằng chứng khoa học hiển nhiên, người ta vẫn không thôi nghi ngờ vào những sự kiện như cuộc đổ bộ đầu tiên lên Mặt Trăng của người Mỹ, vụ ám sát tổng thống Kennedy, và đủ thứ ầm ĩ khác.
Người ta vẫn chưa thể lý giải nguyên nhân tại sao có nhiều người thực tâm tin vào các thuyết âm mưu, và phủ nhận tất cả các bằng chứng khoa học và pháp lý khác. Một số học giả cho rằng do con người sẵn có niềm tin từ thời thượng cổ vào sự tồn tại của các thế lực hắc ám trong tự nhiên, những học giả khác lại cho rằng nhiều người muốn tìm cách giải thích các sự kiện, hiện tượng quan trọng bằng những nguyên nhân quan trọng, chẳng hạn họ không bao giờ chịu tin rằng một thứ gì đó khổng lồ và khó hiểu như đám mây lại đơn giản chỉ do nước bốc hơi lên trời mà thôi. Nói chung, họ cần một lý do nào đó đủ kinh khủng để lý giải cho một sự kiện họ cho là hết sức kinh khủng.
Sự thiếu vắng lòng tin cũng là một nguyên nhân quan trọng đưa đến các thuyết âm mưu. Người dân nghèo, ít học, bị loại ra khỏi cuộc chơi, ở các tầng lớp thấp trong xã hội rất dễ là nạn nhân của các thuyết âm mưu, và họ chính là những kẻ tin một cách thành thực nhất vào các giả thuyết hoang đường nhất. Những người có học thức cao, thu nhập cao, ở giới trung lưu và cao hơn thường ít khi tin vào các thuyết âm mưu, do họ được thông tin tốt hơn và đa chiều hơn, họ hòa nhập cùng hệ thống chính trị và kinh tế, họ có thái độ tích cực hơn với xã hội, và họ có xu hướng tin vào các thông tin chính thống mà họ nhận được. Điều đó cũng dễ hiểu, vì càng ở trên cao thì người ta càng có tầm nhìn bao quát hơn.
Một trong những ví dụ đơn giản là bàn làm việc tiếp dân của các cơ quan. Những nơi để cửa kính thấp, cho khách thấy rõ hồ sơ được xử lý thế nào trên bàn, thường mang lại cảm giác yên tâm hơn cho người dân.
Quay trở lại vụ thảm sát Bình Phước, có thể thấy rằng sự kiện khủng khiếp này được gieo lên mảnh đất đầy những hoài nghi ngay từ đầu. Do chạy đua theo thông tin, nhằm câu độc giả, một số tờ báo đã đưa tin vội vã, và do đó có rất nhiều tin trái ngược lẫn nhau, không từ những nguồn tin cậy, thậm chí là bịa đặt, làm cho độc giả vô cùng hoang mang, không biết đâu là thật, là giả. Có thể nói rằng chính những thông tin sai lệch và không được đính chính này đã gợi lên các giả thuyết âm mưu trong một bộ phận dư luận.
Thực tế thì không thể tiêu diệt thuyết âm mưu, nó là một phần của văn hóa. Dù xã hội có văn minh đến đâu thì bất cứ sự kiện lớn nào vẫn sẽ là mảnh đất cho các cây âm mưu lớn mọc lên. Tuy nhiên, để cho các giả thuyết hoang đường ấy chỉ khu trú trong một bộ phận dân cư nhất định, và không bị kẻ xấu lợi dụng, kích động người dân thì cần khá nhiều việc để làm, từ nâng cao văn hóa và trách nhiệm của phóng viên, cho đến sự minh bạch của các cơ quan quản lý nhà nước. Người dân sẽ tin tưởng hơn vào thông tin chính thống khi họ nghĩ rằng họ được biết, được bàn, được làm và được kiểm tra.
http://www.thanhnien.com.vn/toi-viet/thong-tin-sai-lech-manh-dat-mau-cho-thuyet-am-muu-585372.html
15 July 2015
Mất chủ quyền quốc gia trên mạng
Từ Phong
Ảnh hưởng của Facebook: từ lượng thành chất
Chứng nghiện Facebook
Theo kết quả một thăm dò ý kiến trên một tờ báo lớn, có đến 47,9% người tham gia cho rằng “người dùng đã chia sẻ quá nhiều thứ không cần thiết trên Facebook”, 34,5% cho rằng “người dùng lãng phí thời gian trên Facebook”. Tại sao rất nhiều người bỏ thời gian quý báu của mình cho Facebook, mặc dù chính họ cũng phải công nhận rằng tuyệt đại đa số thời gian ấy là vô nghĩa, hoặc chí ít thì cũng không đem lại lợi ích vật chất hay tinh thần nào nhiều hơn so với khi họ dành chúng cho đời thực?
Hành động nào của chúng ta?
Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/toi-viet/mat-chu-quyen-quoc-gia-tren-mang-583558.html
Hàng chục triệu người Việt Nam đang tự nguyện hiến dâng hầu hết thông tin cá nhân của mình cho các mạng xã hội. Điều này tạo ra những nguy cơ lớn về an ninh, về chủ quyền quốc gia. Đã đến lúc phải thay đổi.
Theo Facebook, hiện nay họ có 30 triệu người dùng tại Việt Nam (trong đó 27 triệu người dùng trên thiết bị di động).
Tính đến tháng 1.2015, lượng người Việt dùng Facebook mỗi ngày đã tăng 43% so với cùng kì năm ngoái. Về độ tuổi người dùng, có đến 3/4 người Việt dùng Facebook từ 18 - 34 tuổi. Ngoài ra, người Việt hiện dành khoảng 2 tiếng rưỡi mỗi ngày cho Facebook, gấp đôi thời gian dành để xem ti vi.
Ảnh hưởng của Facebook: từ lượng thành chất
Những con số thống kê này cho thấy ảnh hưởng ngày càng kinh khủng của Facebook nói riêng và các mạng xã hội nói chung lên cuộc sống người Việt hiện nay. Chúng ta đang bỏ những nguồn lực khổng lồ của cả dân tộc vào các hệ thống công nghệ của nước ngoài, và đóng góp đáng kể cho sự thành công của những tập đoàn trị giá hàng trăm tỉ đô la Mỹ.
Không phủ nhận những mặt tích cực của mạng xã hội lên đời sống từng cá nhân và cả xã hội, nhờ có nó mà chúng ta có thể giữ được quan hệ với bạn bè, tìm kiếm các mối quan hệ mới, gặp lại những người cũ, dù chỉ trên không gian ảo. Và cũng nhờ nó mà nhiều vấn đề đã được khơi lên trong cộng đồng để rồi tạo sự thay đổi theo chiều hướng tốt hơn, chẳng hạn như chất lượng các bản dịch văn học tại Việt Nam. Sau khi cư dân Facebook lên tiếng về các thảm họa dịch thuật, thì giới chuyên môn và các nhà sách đã phải cẩn trọng hơn, phải thu hồi và sửa chữa các bản dịch lỗi.
Tuy nhiên, những mặt trái của mạng xã hội cũng làm chúng ta phải e ngại. Mới đây, một cô gái trẻ đã tự tử do không chịu nổi những lời đàm tiếu trên Facebook sau khi bị người yêu tung đoạn video quay cảnh nhạy cảm giữa hai người lên mạng. Một nhà khoa học đã phải mất nhiều ngày giải thích về bằng tiến sỹ khoa học của mình trước những tấn công vu cáo ông.
Những bài viết tràn ngập trên mạng hằng ngày đả kích các lãnh đạo đất nước, phỉ báng vĩ nhân, thậm chí là kích động hằn thù dân tộc. Rất nhiều thông tin không thể kiểm chứng và từ những nguồn không tin cậy đã làm cho thành viên Facebook hoang mang và nhiều khi dẫn đến các phản ứng tập thể mù quáng, mà những trường hợp điển hình nhất gần đây thuộc về dự án sân bay Long Thành, thay cây xanh và thiết kế đường tàu trên cao tại Hà Nội. Bất chấp các ý kiến chuyên gia và quan điểm của những người có trách nhiệm, vẫn có một phần đám đông trên Facebook không thôi hoài nghi về tính hợp lý cùng những mặt tích cực của các dự án này.
Sự tự do gần như tuyệt đối cùng tính vô danh tương đối của xã hội Facebook đã tạo ra sự bình đẳng giả tạo về mặt thông tin. Người ta không còn phân biệt được sự khác nhau giữa các ý kiến chuyên môn của một giáo sư toán với một cậu sinh viên, giữa một chuyên gia danh tiếng trong ngành hàng không với một kỹ sư nông nghiệp về hưu nào đó.
Chứng nghiện Facebook
Theo kết quả một thăm dò ý kiến trên một tờ báo lớn, có đến 47,9% người tham gia cho rằng “người dùng đã chia sẻ quá nhiều thứ không cần thiết trên Facebook”, 34,5% cho rằng “người dùng lãng phí thời gian trên Facebook”. Tại sao rất nhiều người bỏ thời gian quý báu của mình cho Facebook, mặc dù chính họ cũng phải công nhận rằng tuyệt đại đa số thời gian ấy là vô nghĩa, hoặc chí ít thì cũng không đem lại lợi ích vật chất hay tinh thần nào nhiều hơn so với khi họ dành chúng cho đời thực?
Câu trả lời có thể tìm thấy qua bản chất của chiến lược kinh doanh mà các chuyên gia gọi là tiếp thị Skinner, lấy theo tên nhà khoa học nổi tiếng trong ngành tâm lý học hành vi. Trong thí nghiệm của mình, Burrhus Frederic Skinner đã cho một con chuột vào chiếc lồng có một cái đĩa không, một cần gạt, bóng đèn và loa; mỗi khi loa phát âm thanh hay bóng đèn bật sáng, thì chuột có thể nhận được thức ăn trên đĩa nếu nhấn vào cần gạt. Thực tế cho thấy chuột học được ngay cách gạt cần để nhận thức ăn theo các tín hiệu âm thanh và ánh sáng của chủ.
Hầu hết các mạng xã hội thành công đều xây dựng đế chế của mình dựa theo phát hiện này của Skinner: các icon trên Facebook sẽ đổi màu, nhấp nháy, máy tính sẽ phát tín hiệu âm thanh quen thuộc khi có tin nhắn mới, khi có feed mới, khi có email mới, khi có tin tức mới; và khi người dùng mở trang web lên sẽ nhận được “phần thưởng”, dù cho họ có thích hay không cái gọi là “phần thưởng” ấy. Đó cũng là nguyên nhân làm cho các cô bé cập nhật ảnh mới liên tục, các cậu bé ngồi lì hàng ngày trên Facebook, các ông già về hưu viết hàng chục status hằng ngày để nhận được like của những người xa lạ. Không khó hình dung sự liên hệ giữa các dụng cụ thí nghiệm với các công cụ trên trang web của Facebook.
Sau một thời gian nhất định gia nhập vào cộng đồng mạng, con người bị rơi vào ảo giác rằng họ sẽ phải thường xuyên mở trang web lên nếu không muốn bỏ lỡ điều gì đó, và thời gian họ dành cho mạng xã hội ngày càng tăng, tới mức họ không còn phân biệt được cuộc sống thật và ảo nữa. Có những người có 5.000 bạn trên Facebook và hàng chục ngàn follower (người theo dõi), nhưng đám tang họ thì lạnh lẽo ở quê với vài ba bạn học từ thời thơ ấu, khi chưa ai biết máy tính cá nhân là gì.
Nói cách khác, ngày nay máy tính đã là chiếc lồng Skinner hiện đại, và mạng xã hội, trên phương diện nào đó, là một nhà máy khổng lồ với hàng tỉ chiếc lồng như thế.
Có phải Facebook được chào đón ở mọi nơi?
Thực ra Facebook không hiền lành vô tội như nụ cười của ông chủ tỷ phú của nó. Không ngẫu nhiên mà một số quốc gia cấm sử dụng mạng xã hội nước ngoài. Việc người dùng dành quá nhiều thời gian cho mạng, lưu trữ quá nhiều thông tin cá nhân trên mạng, và thậm chí trao đổi các thông tin nhạy cảm trên mạng, có thể làm cho ông chủ của kho dữ liệu khổng lồ ấy có được quyền lực khổng lồ với đời sống hàng tỉ công dân nước khác.
Ngày nay, việc mất quyền kiểm soát với dữ liệu cá nhân của công dân cũng là mất một phần chủ quyền quốc gia. Có thể nói rằng, phần lớn người dân hiện nay sợ mất kết nối với Facebook và Google còn hơn là mất nước, mất điện, kẹt xe hay thiếu thức ăn. Kết nối với internet đã trở thành nhu cầu cơ bản nhất, thấp nhất, và cũng là quan trọng nhất của tháp nhu cầu Maslow.
EU gần đây liên tục lên tiếng yêu cầu các mạng xã hội phải đảm bảo tính riêng tư của người sử dụng, phải cho phép họ xóa vĩnh viễn các dữ liệu cá nhân. Điều nguy hiểm hơn nữa là, thông qua việc sử dụng các cookie, Facebook theo dõi các hoạt động duyệt web của người dùng ngay cả khi họ không có tài khoản Facebook, hay đã hủy tài khoản, đăng xuất ra khỏi trang hoặc tắt chức năng quảng cáo trực tuyến. Điều này vi phạm luật pháp EU. Người dùng bị Facebook theo dõi khi họ sử dụng nút "like" được đặt trên hơn hàng triệu trang web bao gồm cả các trang của chính quyền và ngành y.
Những quan ngại của EU không phải là cá biệt. Các nhà chính trị đã thấy rằng rất nhiều điều luật cần phải sửa đổi để phù hợp với phát triển vũ bão của công nghệ. Và đã có nhiều chuyên gia cảnh báo về viễn cảnh khủng khiếp - khi thế giới bị hủy diệt bởi một hệ thống mạng xã hội biết tự tiến hóa và vượt ra khỏi tầm kiểm soát của chính con người, như trong phim Terminator Genysis. Mặc dù hiện nay chuyện đó chỉ có thể xảy ra trong các tác phẩm khoa học viễn tưởng, nhưng thực ra cũng mới chỉ chừng 10 năm trước đây, không ai trong chúng ta có thể hình dung về việc con người sẽ tiêu tốn hầu hết thời gian của mình trên mạng, và lưu trữ hầu hết cuộc đời mình trên mạng như hiện nay. Vậy nên, rất nhiều thứ khó tưởng tượng nổi cũng có thể đến trong vòng 10 năm tới.
Hành động nào của chúng ta?
Có lẽ đã quá muộn để bàn về một mạng xã hội của riêng Việt Nam. Vả lại, trình độ công nghệ cũng chưa bao giờ cho phép chúng ta làm được điều ấy. Việc xử lý khối lượng thông tin khổng lồ trong thời gian thực đòi hỏi những công nghệ phức tạp hơn rất nhiều so với chúng ta hình dung qua gương mặt hiền lành và đơn sơ của Google hoặc Facebook.
Tuy nhiên, nếu cứ phát triển nhanh như hiện nay, thì rất có thể sẽ đến lúc có cả trăm triệu người Việt dành trung bình mỗi ngày 8 tiếng để vào Facebook. Và viễn cảnh ấy thực sự đáng lo ngại. Để người dân không lãng phí thời gian của mình trên mạng vào việc đào bới thông tin làm giàu cho các ông chủ bên kia bờ đại dương, và không bị kích động định kỳ theo tâm lý đám đông bằng những hình ảnh cực đoan trên mạng, có lẽ cần đến những thay đổi căn bản về luật và cách tiếp cận vấn đề.
Nếu chỉ nghĩ đến việc kiểm soát các tài khoản Facebook cá nhân và nghiêm trị các hành vi phạm pháp trên mạng thì rất khó giải quyết vấn đề. Bởi lẽ kẻ nắm quyền sinh sát với hàng triệu tài khoản Facebook Việt Nam lại không chịu kiểm soát của pháp luật Việt Nam. Và do mạng xã hội không có biên giới, cho nên rất khó có cơ sở pháp lý để xử lý những tài khoản mạng mặc dù được viết bằng tiếng Việt và chỉ hướng đến khách hàng người Việt, nhưng lại được đăng ký và sử dụng hoàn toàn ở nước ngoài. Về lâu dài thì không thể kiểm soát những thứ mà chúng ta hoàn toàn không có quyền truy cập vào cơ sở dữ liệu.
Có lẽ chúng ta nên tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia khác, và tìm ra mô hình hợp tác hai bên cùng có lợi với các mạng xã hội. Và nên yêu cầu họ, ngoài việc kiếm lợi cho mình, phải có những hợp tác tích cực về mặt an ninh thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân, và kiểm soát các hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam trên hệ thống của họ. Chủ quyền trên không gian mạng không còn là chuyện gì đó xa xôi, huyễn tưởng nữa, mà đã là yêu cầu cấp thiết, trước khi quá trễ. Vì có lẽ chúng ta sẽ chẳng có cơ hội cử ai đó quay lại quá khứ để thay đổi cái ngày mà mạng xã hội được cho phép hoạt động tự do tại Việt Nam.
Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/toi-viet/mat-chu-quyen-quoc-gia-tren-mang-583558.html
6 June 2015
Tìm Vàng từ Chiếc Loa Rác
Dường như có quá nhiều người quan tâm đến vụ chị bán ve chai Sài Gòn tìm được 5 triệu yên trong chiếc loa cũ và sau khi bị những người xung quanh tranh cướp tiền đã nộp lại cho công an. Có thể thấy đám đông đang mong chờ một kết thúc “cổ tích” là sau một năm thông báo mà không có ai đứng ra nhận, thì chị sẽ lấy được số tiền đó, hoặc, đúng hơn là, một phần của nó, hình như 50% sau khi trừ các chi phí liên quan, theo quy định của pháp luật VN.
Mong muốn ấy hiển nhiên phần nào thể hiện một mơ ước thầm kín nào đó của đám đông – chẳng hạn như đổi đời nhờ ông chú bên Mỹ, ông bác bên Nga, hoặc trúng số độc đắc, và ở trường hợp riêng này đã vật chất hóa thành chiếc loa cũ với kho tiền Nhật bên trong. Toàn bộ những thứ này kết hợp với hình ảnh mang tính biểu tượng của một nhân vật nghèo khổ có giới tính nữ chắc chắn đã gợi lên những chuỗi hình ảnh liên tưởng, và quả là một kịch bản hoàn hảo không chỉ cho báo chí, facebook, mà còn cho nhiều loại hình nghệ thuật khác nữa.
Tuy nhiên, hạnh phúc, như Nam Cao từng viết, là cái chăn hẹp, bên này co thì bên khác hở. Số tiền 5 triệu yên ấy hẳn là phải thuộc về một ai đó, và căn cứ theo loại tiền cũng như nơi cất giấu nó, thì có thể suy đoán rằng nó thực ra đã đến từ Nhật Bản, một quốc gia mà người dân có thói quen giấu tiền ở nhà, do lãi suất quá thấp và do sau đợt vỡ bong bóng tài sản vào thập niên 1990, Ngân hàng Trung ương Nhật (BoJ) đã bãi bỏ một phần chính sách bảo hiểm tiền gửi. Năm ngoái, ngài Taro Aso, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nhật, từng thu hút sự chú ý của dư luận khi tuyên bố người Nhật đang “ngồi trên” 880 tỷ Yên, tương đương 7,33 nghìn tỷ USD, tiền mặt. Báo chí Nhật khi đó đưa tin rằng người dân nước này đang cất giữ số tiền khổng lồ ấy “dưới đệm”. Hoặc, nói một cách hình tượng hơn, “trong loa”.
Rất có thể đã có một người Nhật nào đó tích góp số tiền tiết kiệm của mình trong một chiếc hộp, rồi giấu nó vào trong một chiếc loa cũ. Rồi sau này do sơ suất, do đãng trí, hoặc do người thân không biết, chiếc loa này đã được quăng ra bãi rác điện tử, rồi được nhập về VN qua những con đường khác nhau, chẳng hạn qua Căm Pu Chia, nơi dân buôn đồ điện tử cũ rất ưa chuộng. Người Nhật đó có thể là một người nghèo, một phụ nữ lao động chân tay, đã dành dụm nó cho tuổi già của mình, hoặc cho con cháu mình.
Khó tin là người giàu lại giấu tiền trong một chiếc loa cũ, và cũng khó tin là một người VN lại giấu tiền yên của Nhật như vậy. Tiền yên không phải là loại tiền được ưa chuộng để cất giữ như một tài sản ở VN, và cũng hiếm ai chôn tiền trong nhà ở một đất nước có lãi suất ngân hàng rất cao và thị trường bất động sản tăng giá ổn định như chúng ta.
Đến đây, bỗng nhiên người viết những dòng này có một giấc mơ nhỏ. Tại sao, thay vì vui sướng với việc lượm được tiền người khác, chúng ta không thử thật tâm cố gắng tìm chủ sở hữu của nó, chẳng hạn bằng cách chụp và thông tin chi tiết các thông số kỹ thuật của chiếc loa cũ, chiếc hộp đựng tiền, số tiền trong hộp, cho dư luận Nhật biết để tìm chủ nhân đích thực của nó. Đúng là số tiền 5 triệu yên không lớn với một quốc gia giàu có như Nhật Bản, và cũng không phải tài sản lớn ở một quốc gia có phi công buôn lậu hàng cân vàng như chúng ta; nhưng, có những thứ không thể đo bằng tiền. Người ta có thể dựng tượng một chú chó vì nó chờ chủ nhiều năm ở ga tàu, chứ chưa chắc người ta đã dựng tượng một tỷ phú hãnh tiến nào đó.
Mặc dù với công nghệ hiện đại thì việc tìm chủ nhân cũ của một chiếc loa không phải là việc quá khó khăn, nhưng rất có thể việc tìm kiếm đó sẽ vô ích do chính chủ nhân chiếc loa đã qua đời hoặc mất trí nhớ, tuy nhiên nó cũng không tốn kém gì nhiều, và đặc biệt là, trong bối cảnh người Việt đang mang tiếng xấu ở Nhật và nước ngoài sau hàng loạt vụ buôn lậu, ăn cắp, và phạm các tội khác, thì các nỗ lực vì một số tiền nhỏ nhoi ấy biết đâu lại mang được những thay đổi đáng kể trong nhận thức của người nước ngoài về chúng ta. Dẫu sao thì các nỗ lực ấy cũng đáng để người ta bỏ công sức vào hơn là đứng ngoài vui mừng hò reo vì thấy có ai đó bỏ túi được tiền người khác làm mất.
Hẳn có người sẽ nói, như vậy thì chị ve chai quá thiệt thòi. Vâng, đúng là không nên phong thánh cho một chị ve chai. Khó có thể bắt một người nghèo như chị ấy phải hy sinh mấy trăm triệu đồng gần như đã nằm trong túi cho một giấc mơ viển vông mang tầm vĩ mô nào đó. Nhưng nếu như có nhiều người cùng mơ một giấc mơ lớn hơn cái loa cũ đôi chút, với viễn cảnh về một người nghèo nào đó ở một đất nước xa xôi nhận lại được chiếc loa giấu số tiền chắt bóp của mình, và nhờ đó mà ít nhất là người ấy và thân bằng quyến thuộc của họ có những suy nghĩ tốt hơn về người Việt, thì việc quyên góp vài trăm triệu để mua lại chiếc loa cũ đó từ chị ve chai chỉ là một chuyện quá nhỏ, ngang vài trang quảng cáo trên các tờ báo lớn của VN mà thôi.
Cho đến giờ, đất nước chúng ta vẫn mang cái tiếng là nơi tiêu thụ đồ cũ, là bãi rác công nghệ của thế giới, và là nơi vẫn phải ngửa tay nhận tiền giúp đỡ từ nước ngoài. Rồi chúng ta sẽ phải thoát ra khỏi được cảnh này, nhưng, có lẽ, nếu có tâm thế của những người tự trọng cùng tấm lòng nhân hậu với ước mơ xây dựng và bảo vệ tương lai bằng chính bàn tay mình, thì ngày đó sẽ đến sớm hơn. Và nói cho cùng, thì nếu ta có làm điều thiện nào đó, thì cũng vì chính mình và con cái của mình mà thôi.
17 April 2015
10 April 2015
Từ vựng Lolita
Từ được sử dụng nhiều nhất trong Lolita là tên của nữ nhân vật chính: Dolores - 65 lần, Dolly - 100 lần, Lolita - 240 lần, và Lo - 273 lần, tổng số: 678 lần trong một tiểu thuyết khoảng 110 ngàn từ, như vậy tên cô chiếm đến 0,6% tổng số từ. Riêng chương 26, phần 1, tên Lolita chiếm đến 12% tổng số từ.
Tên Humbert xuất hiện 106 lần (trong đó Humbert Humbert: 19 lần), chưa kể khá nhiều biến thể của nó. Các từ tiếng Pháp, Latin và đức được dùng rất "thoải mái" trong tiểu thuyết, và rất nhiều từ trong số chúng là các từ hiếm khi được sử dụng tại chính quê hương chúng.
Lolita có 14 ngàn từ đơn nhất, 10 ngàn thân từ đơn nhất, và 4 ngàn thân từ chỉ được dùng một lần. Thống kê này cho thấy khả năng dùng từ cực kỳ xuất sắc của Nabokov.
Subscribe to:
Comments (Atom)













