17 August 2012

Dante gặp Beatrice

Dante gặp Beatrice trên cầu Ponte Santa Trinita (Florence)
Họa sỹ: Henry Holiday
1883
National Museums and Galleries on Merseyside  , Liverpool

Trích đoạn chương 5, Lolita:

Nói cho cùng, Dante yêu Beatrice điên dại khi nàng mới chín tuổi, một bé gái linh lợi, đáng yêu, tô son điểm phấn, đeo đầy trang sức, mặc chiếc đầm đỏ thắm, đó là năm 1274, ở Florence, tại bữa tiệc riêng tư trong tháng Năm dễ chịu. 


Beatrice Meeting Dante at a Marriage Feast, Denies Him Her Salutation
Họa sỹ: Dante Gabriel Rossetti
1855
 Ashmolean Museum 

Vài hình ảnh về "Observation Car"


Trích đoạn văn đầu chương 5, Lolita:

Những ngày thanh xuân của tôi, khi nhìn lại, dường như bay xa khỏi tôi trong cơn lốc xoáy quay cuồng các mẩu vụn lờ mờ, như cơn bão tuyết ban mai toàn những mảnh giấy lau đã dùng, mà hành khách nhìn thấy cuốn theo sau toa quan sát cuối đoàn tàu. Tôi thực dụng, giễu cợt và nhanh gọn trong những quan hệ mang tính vệ sinh với đàn bà. Khi còn là sinh viên ở London và Paris, gái làm tiền cũng đủ với tôi. 

Nguyên bản tiếng Anh:

The days of my youth, as I look back on them, seem to fly away from me in a flurry of pale repetitive scraps like those morning snow storms of used tissue paper that a train passenger sees whirling in the wake of the observation car. In my sanitary relations with women I was practical, ironical and brisk. While a college student, in London and Paris, paid ladies sufficed me.

Trong đoạn văn này có từ "observation car" có vẻ hơi xa lạ với độc giả VN. Dưới đây là một số hình mô tả để độc giả hiểu về nó.

Lolita: Toa quan sát cuối đoàn tàu.


Lolita: Toa quan sát cuối đoàn tàu.

Lolita: Toa quan sát cuối đoàn tàu.


16 August 2012

"Rack of joy" là cái gì?

Đoạn văn cuối cùng của chương 5 Lolita có một từ rất thú vị, được tô đậm dưới đây:

Rope-skipping, hopscotch. That old woman in black who sat down next to me on my bench, on my rack of joy (a nymphet was groping under me for a lost marble), and asked if I had stomachache, the insolent hag. Ah, leave me alone in my pubescent park, in my mossy garden. Let them play around me forever. Never grow up.

Mới đọc qua, thì rất dễ dịch từ "rack" này thành "giá đỡ", và "rack of joy" thành "giá đỡ niềm vui"!!! Dịch như thế, theo từ điển thì không sai, nhưng chẳng còn chất gì của Nabokov hết! Dịch thế cũng coi như chưa dịch!

Ngoài cái nghĩa "giá đỡ" ra, thì rack còn một nghĩa khác là cái trăn - một dụng cụ tra tấn thời trung cổ, phổ biến ở Châu Âu trong nhiều thế kỷ. Thiết kế của nó đa dạng nhưng đều bắt nguồn từ ý tưởng: Trói tứ chi nạn nhân vào dụng cụ, sau đó đao phủ dùng quay tay hoặc bánh xe lăn để kéo căng cơ thể nạn nhân cho đến khi các khớp trên cơ thể bị đứt gẫy. Nếu tiếp tục tra tấn, các chi có thể bị xé rời. Đôi khi người ta còn kết hợp thêm một số kiểu tra tấn khác để tăng sự đau đớn, ví dụ như đốt lửa phía dưới cơ thể nạn nhân, và cuối cùng đống lửa này sẽ được dập tắt bằng máu tuôn ra khi tứ chi bị xé đứt.

Một cái trăn cổ
Cảnh tra tấn nạn nhân trên cái trăn

Rack ở ngữ cảnh này nên hiểu là cái trăn tra tấn. Đó là một cách viết ẩn dụ châm biếm rất hay của Nabokov. Đoạn văn này mô tả Humbert đang giả bộ đọc sách trên cái ghế băng ở công viên, xung quanh là các bé gái xinh đẹp chơi đùa, có một bé luồn xuống dưới ghế Humbert đang ngồi để nhặt hòn bi đi lạc; và Humbert căng người ra, khổ sở kiềm chế dục vọng trong mình. Chiếc ghế băng mà Humbert đang ngồi làm anh ta có cảm tưởng như cái trăn tra tấn - cái trăn của niềm khoái lạc đớn đau.


Hai công chúa con Vua Akhnaten

“Daughters of Akhenaton,” fragment of a wall painting from a small residential building of Akhetaton, Tell el-Amarna, New Kingdom, 18th dynasty; in the Ashmolean Museum, Oxford



Còn đây là hai công chúa sông Nile sắp đến tuổi lấy chồng, con gái Vua Akhnaten và hoàng hậu Nefertiti (cặp vợ chồng hoàng tộc này có đến sáu đứa con), không mặc gì ngoài những chuỗi hạt rực sáng, thả mình trên nệm, nguyên vẹn sau ba ngàn năm, với tấm thân dậy thì da nâu nềm, trọc đầu và đôi mắt đuôi dài đen láy. 

(Trích đoạn chương 5, Lolita)

15 August 2012

Lolita: một số từ khó dịch ở chương 10


Lolita Bản dịch tiếng Việt - một số từ khó dịch ở chương 10

Chương 10 của Lolita có khá nhiều từ khó dịch, nhiều đoạn khó dịch, là cái bẫy chết người cho dịch giả. Ví dụ:

1.

Tiếng Anh:

“I see you are not too favorably impressed,” said the lady letting her hand rest for a moment upon my sleeve: she combined a cool forwardness—the overflow of what I think is called “poise”—with a shyness and sadness that caused her detached way of selecting her words to seem as unnatural as the intonation of a professor of “speech.”

Tiếng Nga:

“Я вижу, впечатление у вас не очень благоприятное”, сказала моя дама, уронив на миг руку ко мне на рукав. В ней сочеталась хладнокровная предприимчивость (переизбыток того, что называется, кажется, “спокойной грацией”) с какой-то застенчивостью и печалью, из-за чего особая тщательность, с которой она выбирала слова, казалась столь же неестественной, как интонации преподавателя дикции. 

- forwardness: offensive boldness and assertiveness; từ dùng trong bản tiếng Nga: Предприимчивость – деловая активность, инициативность, способность к начинанию и осуществлению дела, приносящего успех. Предпринять что-либо — значит сделать инициативное, упреждающее действие, проявить активность до того, как будут четко определены ее условия и последствия.

- poise: graceful and elegant bearing; (tham khảo: http://www.elegantwoman.org/poise.html)

2.

We passed on to a small pantry and entered the dining room, parallel to the parlor we had already admired.

- Pantry: a small room or cupboard in which food, crockery, and cutlery are kept - kho hoặc tủ đựng thực phẩm, bát đĩa, dao thớt,... cho bếp.

3.

and there were the expected coils of the rubber snake, and its complement—a pinkish cozy, coyly covering the toilet lid.

- Cozy: tấm đệm phủ trên nắp bồn cầu toa lét.

- Coils of the rubber snake: cái ống cao su (cắm vào vòi nước bồn tắm thay cho vòi hoa sen) cuộn tròn nhìn giống con rắn.

4.

Tiếng Anh:

I was perfectly aware that if by any wild chance I became her lodger, she would methodically proceed to do in regard to me what taking a lodger probably meant to her all along, and I would again be enmeshed in one of those tedious affairs I knew so well.

Tiếng Nga:

Я вполне понимал, что ежели по какому-либо невероятному стечению обстоятельств оказался бы её жильцом, она бы методически принялась делать из меня то, что ей представлялось под словом “жилец”, и я был бы вовлечён в одну из тех скучных любовных историй, которые мне были так знакомы.

Đoạn này khó chuyển ngữ cho đúng và mượt mà. Rất dễ dịch loạn như một dịch giả "nổi tiếng" đã làm! 

5.

The front hall was graced with door chimes, a white-eyed wooden thingamabob of commercial Mexican origin, and that banal darling of the arty middle class, van Gogh’s “Arlésienne.” A door ajar to the right afforded a glimpse of a living room, with some more Mexican trash in a corner cabinet and a striped sofa along the wall.There was a staircase at the end of the hallway, and as I stood mopping my brow (only now did I realize how hot it had been out-of-doors) and staring, to stare at something, at an old gray tennis ball that lay on an oak chest, there came from the upper landing the contralto voice of Mrs. Haze, who leaning over the banisters inquired melodiously, “Is that Monsieur Humbert?” A bit of cigarette ash dropped from there in addition.

Đoạn này đơn giản, nhưng lưu ý các từ hall, hallway,... dịch không đúng sẽ làm cho độc giả không hình dung được cảnh căn nhà nơi Lolita đang ở.

6.

I groped for the timetable I had in my pocket and surreptitiously fished it out to look as soon as possible for a train.

Đoạn này có dịch giả dịch thành thế này:

Tôi rờ rẫm trong túi tìm bảng giờ tàu, lén lôi ra xem có chuyến nào sớm nhất.


11 August 2012

Ánh mắt Lolita lần đầu tiên nhìn thấy Humbert

Trích đoạn chương 10, Lolita, khi Humbert lần đầu tiên gặp Lolita:

không có chút dấu hiệu nào báo trước, một làn sóng biển xanh ngắt cồn lên ngay dưới trái tim tôi và, từ cái thảm trong vũng nắng, gần như trần truồng, quỳ chân, xoay người trên đầu gối, tình yêu Riviera của tôi đang nhướng mắt chăm chú nhìn tôi trên chiếc kính râm. 

Quảng cáo phim Lolita, 1962

8 August 2012

Bức tranh Arlèsienne của Van Gogh


Trích chương 10 Lolita:

Người hầu gái da màu cho tôi vào nhà - và để mặc tôi đứng trên tấm thảm chùi chân trong khi chị ta vội vàng quay vào bếp nơi có cái gì đó không được để cháy đang cháy khét. 

Sảnh trước được tô điểm bằng chuông gió treo cửa, một thứ quái quỷ gì đấy mắt trắng dã, làm từ gỗ, hàng chợ xuất xứ Mexico, và vật cưng quen thuộc đến nhàm chán của giới trung lưu chây bầy chất nghệ, bức "Arlèsienne" của Van Gogh. Cánh cửa hé mở phía bên phải cho thấy loáng thoáng căn phòng tiếp khách, có thêm vài thứ rác rưởi từ Mexico trong tủ góc và bộ sô pha kẻ sọc kê dọc tường. 




7 August 2012

Bức tranh Kreutzer Sonata của Renè Prinet


Trích chương 10 Lolita

Nhưng làm sao tôi trọ được ở đây. Tôi không thể nào thấy vui vẻ trong kiểu nhà ở có những tờ tạp chí sờn rách vương vãi trên mọi cái ghế và thể loại lai tạp tởm lợm giữa hài kịch của cái gọi là “đồ đạc hiện đại thiết kế hướng công năng” với bi kịch của xích đu gẫy và bàn đèn lung lay với những bóng đèn đã hỏng. Tôi được đưa lên trên nhà, rẽ trái vào phòng “của tôi”. Tôi ngắm nghía nó qua màn sương mù từ chối dứt khoát; nhưng tôi vẫn cảm thấy trên đầu giường “của tôi” treo bức “Kreutzer Sonata” của Renè Prinet. Và cô ta gọi cái phòng cho chị hầu gái này là “bán-thư phòng”! Chuồn ra khỏi chỗ này ngay, tôi kiên quyết tự nhủ trong khi giả bộ cân nhắc kỹ lưỡng trên mức giá thấp vô lý và đáng ngờ, mà bà chủ nhà u hoài của tôi hỏi xin cho cả ăn và ngủ.


Kreutzer Sonata

5 August 2012

Vài hình ảnh cô Haze trong phim Lolita

Nữ diễn viên Melanie Griffith đóng vai cô Haze (mẹ Lolita) trong phim Lolita (1997). Humbert lần đầu gặp Haze khi đi thuê nhà ở chương 10, trong đoạn văn sau:


Cầu thang nằm cuối hành lang, trong khi tôi đang đứng lau trán (chỉ lúc này tôi mới nhận ra bên ngoài nóng như thế nào) và nhìn chằm chằm, để dừng được mắt vào thứ gì đó, một quả bóng tennis cũ màu xám nằm trên cái rương gỗ sồi, thì từ trên gác vọng xuống giọng nữ trầm của cô Haze, đang nghiêng người qua lan can cầu thang, du dương hỏi, “Ông Humbert đấy ạ?” Thêm vào đó là chút tàn thuốc rớt xuống từ chỗ ấy. Chẳng mấy chốc, đích thân cô chủ nhà – đôi dép xăng đan, cái quần hạt dẻ, áo lụa mỡ gà, mặt vuông chữ điền, theo thứ tự ấy – bước xuống cầu thang, ngón tay trỏ vẫn còn đang nhè nhẹ gõ trên điếu thuốc.

Tôi nghĩ, tốt nhất là tôi nên mô tả cô nàng ngay lập tức, cho xong chuyện. Quý cô đáng thương này tầm ba nhăm tuổi, trán bóng nhoáng, lông mày tỉa tót và có những nét hoàn toàn mộc mạc nhưng không phải là không quyến rũ, thuộc cái kiểu có thể coi như nước ốc của Marlene Dietrich. Nắn lại búi tóc màu nâu đồng của mình, cô dẫn tôi vào phòng khách và chúng tôi trao đổi một lát về vụ cháy nhà ông McCoo và những đặc lợi của cuộc sống ở Ramsdale. Đôi mắt cô màu xanh rêu biển nằm cách rất xa nhau có kiểu nhìn ngồ ngộ, lướt khắp người đối diện, thận trọng lảng tránh ánh mắt họ. Nụ cười của cô chỉ là cái nhướng một bên lông mày đầy vẻ hoài nghi;[...]

Dưới đây là vài hình ảnh minh họa cho chương 10, lấy từ bộ phim này.

Lolita Bản dịch tiếng Việt


Lolita Bản dịch tiếng Việt


Lolita Bản dịch tiếng Việt



4 August 2012

Ai là "nhân vật mới tới" trong đoạn cuối chương 9 của Lolita?


Lolita Freud

Lolita, đoạn cuối chương 9, nguyên bản:

The reader will regret to learn that soon after my return to civilization I had another bout with insanity (if to melancholia and a sense of insufferable oppression that cruel term must be applied). I owe my complete restoration to a discovery I made while being treated at that particular very expensive sanatorium. I discovered there was an endless source of robust enjoyment in trifling with psychiatrists: cunningly leading them on; never letting them see that you know all the tricks of the trade; inventing for them elaborate dreams, pure classics in style (which make them, the dream-extortionists, dream and wake up shrieking); teasing them with fake "primal scenes"; and never allowing them the slightest glimpse of one's real sexual predicament. By bribing a nurse I won access to some files and discovered, with glee, cards calling me "potentially homosexual" and "totally impotent." The sport was so excellent, its results--in my case--so ruddy that I stayed on for a whole month after I was quite well (sleeping admirably and eating like a schoolgirl). And then I added another week just for the pleasure of taking on a powerful newcomer, a displaced (and, surely, deranged) celebrity, known for his knack of making patients believe they had witnessed their own conception.

Bản dịch tiếng Việt:

Độc giả sẽ thấy thương cảm khi biết rằng không lâu sau chuyến quay về thế giới văn minh tôi có cuộc vật lộn nữa với bệnh điên (nếu như định nghĩa phũ phàng này có thể áp dụng cho sự u sầu và cảm giác khao khát bị đè nén đến không thể chịu đựng nổi). Tôi hoàn toàn hồi phục nhờ vào khám phá tôi tìm được khi đang điều trị ở viện điều dưỡng đặc biệt đắt đỏ này. Tôi khám phá ra nguồn giải trí lành mạnh bất tận trong việc đùa giỡn với các bác sỹ tâm thần; khôn khéo dắt mũi họ; không bao giờ để họ thấy rằng ta biết tất cả những mánh lới nghề nghiệp; sáng tác cho họ những giấc mơ trau chuốt, phong cách thuần túy kinh điển (những thứ làm cho họ, những kẻ bóp nặn giấc mơ, mộng mị và rú lên thức giấc); trêu chọc họ bằng các “nguyên cảnh” [3] giả tạo; và không bao giờ để cho họ có ý niệm mong manh lờ mờ nào về rắc rối tình dục thực sự của bệnh nhân. Bằng cách mua chuộc cô y tá, tôi mò vào được vài hồ sơ và tìm ra, với sự thích thú, các tấm thẻ dữ liệu gọi tôi là “ có khả năng trở thành tình dục đồng giới” và “hoàn toàn liệt dương”. Trò đùa này thật là vui, kết quả của nó – với trường hợp của tôi – tuyệt đến nỗi tôi nán lại thêm cả tháng sau khi đã hoàn toàn khỏe mạnh (ngủ ngon lành và ăn như gái mới lớn). Rồi sau đó tôi nấn ná thêm một tuần nữa chỉ vì thích tranh biện với nhân vật mới tới, một kẻ lưu vong (và, chắc chắn là, bị loạn trí) nổi danh, có ảnh hưởng lớn, được biết đến vì sở trường làm cho bệnh nhân tin rằng họ đã chứng kiến sự thụ thai của chính mình.

[3]. Nguyên bản: Primal scene. Trong phân tâm học, nguyên cảnh (cảnh nguyên sơ ban đầu) là sự chứng kiến của đứa trẻ với hành vi tình dục, thường là giữa cha mẹ, gây ảnh hưởng mạnh mẽ lên sự phát triển tâm lý của đứa trẻ.

Giải thích:

Nabokov tấn công Freud và lý thuyết của ông ấy trong toàn bộ đoạn văn cuối chương 9 Lolita. Đặc biệt là những dòng văn cuối cùng, Nabokov đã châm biếm ám chỉ Freud là "một kẻ lưu vong (và, chắc chắn là, bị loạn trí) nổi danh, có ảnh hưởng lớn, được biết đến vì sở trường làm cho bệnh nhân tin rằng họ đã chứng kiến sự thụ thai của chính mình." Không muốn bình luận gì về quan điểm cá nhân này của Nabokov, tuy nhiên, đứng dưới góc độ dịch thuật, thì cần phải hiểu rõ dụng ý của nhà văn để chuyển ngữ cho chính xác. Câu văn ngắn này có hai từ rất dễ dịch sai là:

- Powerfull: Rất nhiều phương án chuyển ngữ cho từ này, nhưng theo tôi, Freud là nhà khoa học, nhà triết học, nhà tư tưởng lớn của nhân loại chứ không phải một quân nhân, doanh nhân, chính khách, nên dịch từ này thành ảnh hưởng lớn thì đúng hơn là hùng mạnh, mạnh mẽ, thậm chí là lợi hại như một dịch giả đã làm. Từ "lợi hại" mà dành cho một vĩ nhân như Freud thì có vẻ không phù hợp.

- Displaced: Freud là người Do Thái, chịu sự kỳ thị chủng tộc lâu năm, bản thân ông cũng phải lưu vong nhiều lần. DP (Displaced Person) còn là một cụm từ phổ biến trong tiếng Anh, để chỉ những người phải xa quê hương vì nhiều nguyên nhân khác nhau. Nên dịch từ này thành lưu vong. Trong bản tiếng Nga, DP còn được Nabokov châm biếm qua nghĩa Dementia Praecox (sa sút tâm trí sớm, hay còn gọi là tâm thần phân liệt. Thuật ngữ Tâm thần phân liệt (Schizophrenia) là sáng tạo vào năm 1908 của nhà tâm lý và tâm thần học Thụy Sĩ Eugen Bleuler (1857-1939), nhằm mô tả một rối loạn trước đó được biết tới với tên gọi “Dementia Praecox” (sa sút tâm trí sớm) do Emil Kraepelin định danh.)

Tham khảo bản Lolita tiếng Nga, đoạn cuối cùng của chương 9:

А после этого я ещё прикинул недельку единственно ради того, чтобы иметь удовольствие потягаться с могучим новым профессором из “перемещённых лиц”, или Ди-Пи (от “Дементии Прекокс”), очень знаменитым, который славился тем, что умел заставить больного поверить, что тот был свидетелем собственного зачатия.

3 August 2012

Sigmund Freud


Nabokov rất hay công kích Freud trong các tác phẩm văn học của mình, và Lolita không phải ngoại lệ. Mặc dù còn nhiều tranh cãi nhưng không ai có thể phủ nhận tầm ảnh hưởng cũng như sự vĩ đại của Freud. Được biết đến như cha đẻ của ngành phân tâm học, tuy nhiên những công trình khoa học của Freud đã vượt xa khỏi phạm vi hẹp của mình.

Tiểu sử Freud. 



Thời trẻ

SIGMUND FREUD sinh năm 1856 ở Freiburg (hiện nay là Pibor thuộc cộng hòa Séc), một thị trấn ở nước Moravia (lúc ấy thuộc đế quốc Áo). Tên khai sinh của ông là Sigismund Schlomo Freud nhưng về sau (năm 1877) chính ông đã rút ngắn tên mình thành Sigmund Freud. Mẹ ông là vợ thứ ba của Jacob (1815–1896), cha ông, và khi sinh Sigmund bà chỉ mới 21 tuổi. Cha của Freud là một doanh nhân Do Thái, hay giúp đỡ người khác, hơn vợ ba của mình đến 20 tuổi. Vào lúc Freud được 3 tuổi, cha ông bị vỡ nợ. Hoàn cảnh của gia đình Freud không cải thiện những năm sau đó, và vào năm 1860 - lúc Freud mới lên bốn tuổi - gia đình ông đã mất hết của cải và phải chạy trốn qua thành Wien, thủ đô nước Áo. Tuy túng thiếu, song gia đình của Freud luôn cố gắng hết sức để tạo điều kiện cho ông được học tập đến nơi đến chốn.

Tại Wien, Freud là học sinh xuất sắc, tuy ông có khá nhiều vấn đề thích nghi với cuộc sống ở một thành phố lớn. Năm 17 tuổi, ông tốt nghiệp phổ thông và chọn học ngành y. Freud vào Trường Y Dược ở Wien không vì muốn hành nghề chữa bệnh, lý do thực sự là sở dĩ ông ta đam mê nghiên cứu các mối quan hệ giữa người với người. Năm 1876, ông làm việc tại phòng thí nghiệm của Ernst Wilhelm Brücke, nơi ông bắt đầu một sự nghiệp nghiên cứu sáng chói về một số hiện tượng giải phẫu - sinh lý học của hệ thần kinh. Năm 1881, Freud tốt nghiệp đại học và quen với bà Martha Bernays - vợ tương lai của ông.

Sự nghiệp

Trước nhu cầu lập gia đình, Freud cần tiền. Vì lý do này ông đã từ bỏ những phòng thí nghiệm lý thuyết nhàm chán và quyết định tham gia dịch vụ tâm thần học của giáo sư Theodor Meynert. Trong thời gian này, Freud nghiên cứu, đào sâu và thực tập thêm về môn thần kinh học. Năm 1885 đánh dấu thành tựu đầu tiên của nhà phân tâm học tương lai: ông đã chứng minh được những tính chất giảm đau của cocain và cho xuất bản cuốn ober Coca (Về chất cocain). Với tác phẩm này, Freud trở thành người đầu tiên trong lịch sử y dược đã ca ngợi những tính chất của cocain, một điều đã gây nhiều hiềm khích giữa Freud và giới y khoa ở Wien về sau.

Cũng vào năm 1885, cuộc đời của Freud đi theo một ngã rẽ mới. Ông dành được học bổng và đến Paris, nơi ông sẽ thực tập sư phạm với nhà thần kinh học người Pháp Jean Charcot, khá nổi tiếng lúc bấy giờ. Tại bệnh viện Salpêtrière, Paris, Freud bỏ công sức quan sát và nghiên cứu những biểu hiện của chứng hysteria và về ảnh hưởng của thôi miên.

Sau một thời gian ở Paris, Freud dọn về Berlin - nơi ông dành thời gian quan tâm đến bệnh thần kinh ở trẻ em - và rồi lại về nơi ở cũ - Wien, nước Áo. Tại đây, ông đã mở phòng mạch thần kinh và nhận chữa bệnh cho nhiều bệnh nhân thần kinh bằng liệu pháp điện hoặc liệu pháp thôi miên. Trong khoảng một thập kỷ, công tác và kinh nghiệm chữa bệnh của Freud đã dần dần giúp ông dựng nền tảng của ngành phân tâm học.

Bà Anna O. (tên thật là Bertha Pappenheim) - một bệnh nhân nổi tiếng của Freud với chứng bệnh hysteria - được xem như trường hợp phân tâm học đầu tiên được ghi chép trong y văn. Sau một thời gian khám bệnh cho bà ta, Freud đi đến một vài kết luận quan trọng về nguồn gốc của chứng hysteria. Theo ông, những cơn hysteria không gì khác hơn là một số kỷ niệm nhất định, một số cảnh quá khứ đóng một vai trò quan trọng nào đó đã được làm sống lại qua những ảo giác. Ngoài ra, từ năm 1887 đến năm 1902, Freud bỏ công nghiên cứu những cơ chế của sự dèn nắn cảm xúc, những triệu chứng của hiện tượng này và nhất là đã khám phá ra hội chứng Êđíp vào năm 1897. Năm 1899, ông viết và cho xuất bản cuốn Giải đoán những giấc mơ - và lần đầu tiên trong lịch sử khoa học giấc mơ trở thành một đối tượng nghiên cứu nghiêm túc. Năm năm sau đó ông lại cho xuất bản tiếp Ba tiểu luận về lý thuyết giới tính - một tác phẩm cột mốc của sự nghiệp Freud.

Cần phải nói thêm rằng ở độ tuổi 40, bản thân Freud cũng là nạn nhân của một vài chứng rối loạn tâm lý - thể xác, bao gồm nhiều chứng sợ quá đáng, nhất là sợ cái chết. Với bản năng là nhà phân tâm học, ông đã tự áp dụng lý thuyết này cho chính mình. Ông tự khám phá những giấc mơ, kỷ niệm của chính ông - nhất là kỷ niệm thơ ấu, và tiến trình phát triển của cá tính ông. Cũng trong giai đoạn này, Freud nhận thức được rằng ông có hiềm khích sâu kín với cha mình, và lại có xung cảm tình dục với mẹ ông - người mà theo ông là nồng ấm, quyến rũ và rất bảo hộ. Có lẽ rối loạn tâm lý mà Freud đã trải qua trong những năm này đã đóng góp một cách đáng kể cho sự nghiệp sáng tác và nghiên cứu phong phú của ông đã nói trên.

Đây là một giai đoạn cột mốc, Freud dần dà phát triển nên một định nghĩa chính xác cho thuật ngữ "phân tâm học": phân tâm học, theo ông, được định nghĩa như ngành khoa học có chức năng nghiên cứu cơ chế hoạt động của bộ máy tâm thần. Một định nghĩa gây nhiều tiếng vang và tán thưởng trong giới chuyên môn bấy giờ. Năm 1902, Hội Tâm Lý Học Ngày Thứ Tư ra đời, với sự có mặt của nhiều đồ đệ giỏi của Freud như Paul Federn hay Carl Gustav Jung. Năm 1908, hội này đổi tên thành Hội Tâm Lý Học Wien. Trong suốt sự nghiệp của mình, Freud có đặc điểm là rất thiếu khoan dung với bất kỳ ai bất đồng ý kiến với những lý thuyết do ông đưa ra.

Từ năm 1910 cho đến 1930, Freud tiếp tục cho xuất bản một số tác phẩm giá trị, chẳng hạn cuốn Vật tổ và điều cấm kỵ (năm 1913), mà trong đó lần đầu tiên Freud đưa vào khái niệm narcissism (sự tự yêu - một cách dịch tạm) trong khi bàn về nguồn gốc loài người. Thậm chí gây nhiều tiếng vang hơn nữa là tác phẩm Ra ngoài nguyên tắc thú vui, trong đó Freud giới thiệu một vài khái niệm mới như xung năng cuộc sống, xung năng cái chết và nhất là ông đã đề xuất ba phạm trù tâm thần mà sau này mọi người đều nhắc đến: bản năng, bản ngã, siêu ngã. Không dừng lại ở đó, Freud mở rộng và áp dụng lý thuyết phân tâm học vào nền văn minh loài người, ông tố cáo sức nặng tôn giáo và đạo đức lên trẻ con, qua những cuốn như Tương lai một ảo tưởng viết năm 1927.

Vào năm 1930, nước Đức công nhận tài năng của Freud bằng cách trao giải thưởng Goethe cho ông. Không may cho Freud, đây lại là thời chủ nghĩa phát xít đang lên cao, và một vài năm sau đó sách của ông bị đốt trên toàn nước Đức. Hơn nữa, cuộc chiến của Đức Quốc Xã (thâu tóm nước Áo vào đế quốc Đức) đã buộc Freud và gia đình đi lưu đày: vào năm 1938, ông được quyền rời nước Đức, qua Pháp rồi từ đó vượt biển đến London, Anh. Người ta đồn rằng, khi đến biên giới Pháp, Freud được đòi hỏi phải ký một biên bản chứng nhận rằng ở Đức, ông đã được những người phát xít đối xử tử tế. Freud có lẽ đã phục tùng (vì không còn cách nào khác), nhưng ông đã viết thêm dưới đáy tờ giấy một câu châm chích: Tôi xin nồng nhiệt giới thiệu Gestapo với bất cứ ai. Ở Anh, ông tiếp tục trị bệnh cho một vài bệnh nhân.

Cái chết

Vào năm 1923 Freud được giải phẫu lần đầu tiên vì bệnh ung thư hàm. Căn bệnh này không ngăn cản được thói quen hút thuốc, mà ông giữ cho đến lúc chết. Tương truyền ông hút một gói thuốc mỗi ngày. Tuy vậy bệnh ung thư ác tính đã gây cho ông nhiều đau đớn đến nỗi, vào ngày 21 tháng 9 năm 1939, Freud yêu cầu bác sĩ của mình tiêm một liều móocphin. Nó đã đưa ông chìm vào hôn mê và qua đời hai ngày sau.