12 October 2012

Incubus


The Nightmare
Henry Fuseli (1741–1825) 
1781, 101,6 × 127 cm
Oil on canvas
Institute of Fine Arts, Detroit

Incubus (Dâm quỷ) - con quỷ làm tình với phụ nữ đang ngủ, được nhắc đến trong chương 17 Lolita. Đoạn văn dưới đây của chương này có một chỗ chơi chữ khó dịch:

[...]I saw myself administering a powerful sleeping potion to both mother and daughter so as to fondle the latter through the night with perfect impunity. The house was full of Charlotte’s snore, while Lolita hardly breathed in her sleep, as still as a painted girl-child. “Mother, I swear Kenny never even touched me.” “You either lie, Dolores Haze, or it was an incubus.” No, I would not go that far.

So Humbert the Cubus schemed and dreamed—and the red sun of desire and decision (the two things that create a live world) rose higher and higher, while upon a succession of balconies a succession of libertines, sparkling glass in hand, toasted the bliss of past and future nights.[...]

Từ Cubus không có trong tiếng Anh, đó là một từ (như rất nhiều từ khác trong Lolita) do Nabokov tự sáng tạo ra từ danh từ Incubus. Hiểu nghĩa đen thì Cubus là "không phải dâm quỷ"; Humbert the Cubus là Humbert không phải dâm quỷ!

Để giữ được phần nào cách chơi chữ và văn phong châm biếm của Nabokov trong Lolita, tôi tạm dịch: Humbert the CubusHumbert Tâm Quỷ.



Lolita. Incubus. Chương 17.

8 October 2012

Bồ Công Anh (Dandelion)


Lolita: Bồ Công Anh

Bồ công anh là loại cây nhỏ, thường cao 0,6-1 m, đôi khi cao tới 3 m, thân mọc thẳng, nhẵn, không cành hoặc rất ít cành. Lá cây có nhiều hình dạng: lá phía dưới dài 30 cm, rộng 5-6 cm, gần như không có cuống, chia thành nhiều thùy hay răng cưa to, thô; lá trên ngắn hơn, không chia thùy, mép có răng cưa thưa.

Hoa Bồ công anh màu vàng rực (như mặt trời), nhưng khi hoa thành hạt, thì nó có màu trắng tinh (như mặt trăng). Trong chương 17 Lolita, có một đoạn văn tả về Bồ công anh rất lãng mạn, như thế này:

Most of the dandelions had changed from suns to moons.

Lolita: Bồ Công Anh
Hoa Bồ công anh

Lolita: Bồ Công Anh
Hạt Bồ công anh

Lolita: Bồ Công Anh
Đồng hoa Bồ công anh



6 October 2012

Catullus


Gaius Valerius Catullus (sinh năm 84 trước CN – chết năm 54 trước CN) là nhà thơ La Mã cổ đại trong thế kỉ thứ nhất trước CN. Cho đến nay, các tác phẩm của ông vẫn rất nổi tiếng. Tuy nhiên, chưa ai có số liệu chính xác về ngày sinh và ngày mất của nhà thơ. 

Catullus sinh ở Verona, miền bắc Ý. Cha Catallus là người rất giàu có, có quan hệ thân thiết với Julius Caesar. Khi còn trẻ, Catullus lên Rome và tham gia nhóm các nhà thơ mới (neoteroi) và trở thành nhà thơ xuất sắc nhất của nhóm này. Di sản thơ ca mà Catullus để lại còn đến ngày nay gồm 116 bài thơ dài ngắn khác nhau (từ 2 câu đến 480 câu). Nổi tiếng nhất là 25 bài thơ tình viết về người đẹp Lesbia. Tên thật của Lesbia là Clodia Metelli. Theo truyền thuyết thì Lesbia là một phụ nữ đã có gia đình, xinh đẹp và đỏng đảnh, coi nhà thơ trẻ tuổi và tài năng Catullus là một người tình, nhưng Catullus thì khổ sở vì mối tình này. Trong các bài thơ của mình, Catullus miêu tả lại các giai đoạn khác nhau trong mối quan hệ giữa hai người: thuở ban đầu hân hoan, ngờ vực, chia tay, cảm giác đau đớn khổ sở khi mất nhau. Không rõ lý do tại sao họ chia tay nhau, nhưng những bài thơ của Catullus về mối quan hệ này đã thể hiện sự minh triết sâu sắc của ông. Một số bài thơ của Catullus cũng ghi lại, trực tiếp hoặc gián tiếp, mối quan hệ đồng tính luyến ái của ông với một thanh niên tên là Juventius.

Năm 56 trước CN, anh trai Catullus mất, ông viết một số bài thơ về sự kiện này. Khoảng năm 56-57 trước CN, Catullus tham gia cuộc hành trình đến Bithynia, vùng Tiểu Á trong đoàn tùy tùng của Gaius Memmius - thống đốc La Mã cai trị vùng lãnh thổ này. Catullus hy vọng nhiều vào chuyến đi này nhưng kết quả không được như mong muốn. Sự thất vọng này được thể hiện trong một số bài thơ viết về Memmius. Một năm sau, Catullus quay trở lại Roma, viết nhiều bài thơ về cuộc sống xã hội đương thời. Catullus mất ở Roma năm 30 tuổi.

Catullus at Lesbia's
Sir Lawrence Alma-Tadema
1865
Bài thơ "Gửi Lesbia" qua một số ngôn ngữ:

Ad Lesbiam

Valerii Catullus

Vivamus mea Lesbia, atque amemus,
rumoresque senum seueriorum
omnes unius aestimemus assis!
soles occidere et redire possunt:
nobis cum semel occidit breuis lux,
nox est perpetua una dormienda.
da mi basia mille, deinde centum,
dein mille altera, dein secunda centum,
deinde usque altera mille, deinde centum.
dein, cum milia multa fecerimus,
conturbabimus illa, ne sciamus,
aut ne quis malus inuidere possit,
cum tantum sciat esse basiorum.

Gửi Lesbia
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng

Lesbia, ta hãy sống, hãy yêu nhau
Mặc ai già cả thở dài than vắn
Ta sẽ không cho họ một cắc nào!
Mặc kệ mặt trời cứ lên rồi lặn.
Em hãy nhớ rằng ngày của ta chóng tàn
Ta về ngủ trong đêm dài vô tận.
Hãy hôn anh nghìn nụ hôn cháy bỏng
Rồi lại một nghìn, rồi lại một trăm
Còn khi đã hôn nhau cả trăm ngàn lần
Không cần biết và ta không cần đếm
Để ai ganh tỵ với ta đừng nói nhảm
Rằng hai chúng mình…
Đã hôn nhau cả vạn, cả ngàn.

Bản tiếng Anh:
Translated by Ben Johnson

Let us live, my Lesbia
and let us judge all the rumors of the old men
to be worth just one penny!
The suns are able to fall and rise:
When that brief light has fallen for us
we must sleep a never ending night.
Give me a thousand kisses, then another hundred,
then another thousand, then a second hundred,
then yet another thousand more, then another hundred.
Then, when we have made many thousands,
we will mix them all up so that we don’t know
and so that no one can be jealous of us when he finds out
how many kisses we have shared.

Bản tiếng Nga
Перевод Афанасия Фета

Жить и любить давай, о Лесбия, со мной!
За толки стариков угрюмых мы с тобой
За все их не дадим одной монеты медной.
Пускай восходит день и меркнет тенью бледной.
Для нас, как краткий день зайдёт за небосклон,
Настанет ночь одна и бесконечный сон.
Сто раз целуй меня, и тысячу, и снова
Ещё до тысячи, опять до ста другого,
До новой тысячи, до новых сот опять.
Когда же много их придётся насчитать,
Смешаем счёт тогда, чтоб мы его не знали,
Чтоб злые нам с тобой завидовать не стали,
Узнав, как много раз тебя я целовал.





3 October 2012

Tấm quảng cáo đính trên tường đầu giường Lolita


Tấm quảng cáo đính trên tường  đầu giường ngủ Lolita trong nhà Haze.

Cuối chương 16 có một đoạn mô tả giường ngủ Lolita như sau:

Tấm quảng cáo nguyên trang xé ra từ tờ tạp chí bóng loáng nào đó được đính vào mảng tường phía trên giường ngủ, giữa khuôn mặt chàng ca sỹ dòng nhạc tình êm ái và hàng mi cô diễn viên điện ảnh. Nó miêu tả người chồng trẻ có mái tóc sẫm màu với cái gì đó từa tựa như ánh nhìn kiệt sức trong đôi mắt Ai Len. Anh ta làm mẫu cho áo choàng của hãng nào đấy tôi chẳng nhớ và giữ cái khay hình cây cầu của hãng nào đấy tôi cũng chẳng nhớ, đựng bữa ăn sáng cho hai người. Dòng ghi chú, theo lời đức cha Thomas Morell, gọi anh là “Người hùng chiến thắng.” Quý cô hoàn toàn chiến bại (không thấy xuất hiện trên quảng cáo) có thể phỏng đoán là đang chống người ngồi dậy để nhận nửa của mình trên khay. Làm sao để bạn đồng sàng của nàng chui xuống dưới cầu mà không gặp vài hỗn độn khó lường, thì không rõ. 

Tấm quảng cáo này là có thật, và sản phẩm được quảng cáo trên nó là chiếc áo choàng của hãng Viyella, những dòng chú thích ở dưới cũng ít nhiều có liên quan đến vài trường đoạn trong Lolita, có lẽ Nabokov đã có khá nhiều ấn tượng với quảng cáo này.


1 October 2012

Sandro Botticelli

Chân dung tự họa của Botticelli
1475

Alessandro di Mariano di Vanni Filipepi, hay Sandro Botticelli hoặc ngắn gọn là Botticelli, là một họa sỹ người Ý nổi tiếng thời kỳ tiền Phục Hưng. Sinh năm 1445 (có những nguồn tin cho rằng ông sinh năm 1446, 1447 hoặc 1444) chết ngày 17 tháng 5 năm 1510. Trong những tác phẩm của ông có hai bức tranh rất nổi tiếng: The Birth of Venus và Primavera.

The Birth of Venus
Botticelli
1469
Oil in Canvas, 278.5cm x 172.5cm
Florence

Primavera
Botticelli
1477
Tempera on wood, 203cm × 314 cm
Uffizi Gallery, Florence, Italy

27 September 2012

Poplar (Cây Bạch Dương)


Trong Lolita hay nhắc đến cây bạch dương, đặc biệt các chương 11, 12, 13, 14, 15 khi Humbert ở nhà Haze cùng Lolita. Loại cây này không phổ biến ở Việt Nam, nhưng rất hay thấy ở các nước châu Âu, đặc biệt là Nga. Dưới đây là một số hình ảnh cây bạch dương trong tác phẩm của các họa sỹ nổi tiếng.

Mùa thu vàng (Golden Autumn)
Isaac Levitan
1895
Oil on Canvas, 82x126cm
The Tretyakov Gallery, Moscow, Russia

Poplars at Saint-Remy
Vincent van Gogh
1889
Oil on Canvas, 62x46cm
Cleveland Museum of Art

Poplars in Summer
Claude Monet
1891
Oil on Canvas
National Museum of Western Art, Tokyo, Japan.

15 September 2012

Âm nhạc và thơ ca trong Lolita



Humbert nhiều lần dùng các thuật ngữ âm nhạc để miêu tả dục vọng của mình với Lolita, và một cảnh quan trọng, trong đó cả âm nhạc và thơ ca cùng hòa quyện, là cảnh thủ dâm trên sô pha phòng khách nhà bà Haze (mẹ Lolita), vào một sáng Chủ Nhật nắng ấm, ở chương 13. Rất thú vị, Humbert đã mô tả đoạn văn này như một màn kịch trên sân khấu, một màn trình diễn cho độc giả - những người mà sau đó thậm chí được mời tham gia (("I want my learned readers to participate in the scene I am about to replay"). Quả thực, điểm mấu chốt của màn diễn này chính là việc Humbert làm ra vẻ đang thực hiện một việc gì đó trong khi thực sự thì anh ta lại làm một việc khác hẳn. Âm nhạc giữ vai trò quan trọng trong đoạn văn này:

Main character: Humbert the Hummer. Time: Sunday morning in June. Place: sunlit living room. Props: old, candy-striped davenport, magazines, phonograph, Mexican knickknacks […]. She wore that day a pretty print dress that I had seen on her once before, ample in the skirt, tight in the bodice, short-sleeved, pink, checkered with darker pink, and, to complete the color scheme, she had painted her lips and was holding in her hollowed hands a beautiful, banal, Eden-red apple. She was not shod, however, for church. And her white Sunday purse lay discarded near the phonograph. 

Đáng ngạc nhiên là, mặc dù chiếc máy hát (phonograph) hai lần được nhắc đến trong đoạn văn này, nhưng thực sự thì chẳng có bản nhạc nào vang lên trong màn kịch. Vâng, Nabokov không bao giờ nhắc lại một yếu tố nào mà không có dụng ý. Chiếc máy hát ở đây báo hiệu rằng âm nhạc cần được chú ý đến. Quả thật, những thuật ngữ âm nhạc được nhắc đi nhắc lại suốt trong đoạn văn này. Để khơi gợi các động tác vặn vẹo cơ thể mà anh ta phải nhờ đến để thủ dâm mà không bị phát hiện ra, Humbert giải thích rằng anh ta đã "managed to attune, by a series of stealthy movements, my masked lust to her guileless limbs". Rồi sau đó Humbert tiếp tục giải thích về cách anh ta đã kín đáo thực hiện trò thủ dâm của mình như thế nào. Để che đậy phần nào những nhịp chuyển động của mình, anh ta đã ngâm nga một bài hát thịnh hành thời đó:

Having, in the course of my patter, hit upon something nicely mechanical, I recited, garbling them slightly, the words of a foolish song that was then popular—O my Carmen, my little Carmen, something, something, those something nights, and the stars, and the cars, and the bars, and the barmen; I kept repeating this automatic stuff and holding her under its special spell (spell because of the garbling), and all the while I was mortally afraid that some act of God might interrupt me, might remove the golden load in the sensation of which all my being seemed concentrated, and this anxiety forced me to work, for the first minute or so, more hastily than was consensual with deliberately modulated enjoyment. The stars that sparkled, and the cars that parkled, and the bars, and the barmen, were presently taken over by her; her voice stole and corrected the tune I had been mutilating. She was musical and apple-sweet. Her legs twitched a little as they lay across my live lap; I stroked them; there she lolled in the right-hand corner, almost asprawl, Lola the bobby-soxer, devouring her immemorial fruit, singing through its juice, losing her slipper, rubbing the heel of her slipperless foot in its sloppy anklet, against the pile of old magazines heaped on my left on the sofa—and every movement she made, every shuffle and ripple, helped me to conceal and to improve the secretsystem of tactile correspondence between beast and beauty—between my gagged, bursting beast and the beauty of her dimpled body in its innocent cotton frock. 


Lưu ý đoạn văn đầy nhạc tính, với các khúc ngắt câu dồn dập, hoàn toàn không vô tình, mà thể hiện nhịp điệu các cử động của Humbert trong lúc thủ dâm kín đáo. Từ something trong bài hát, do Humbert cố tình giả vờ quên lời, vừa làm méo mó ca từ nguyên bản, vừa cuốn hút Lolita tham gia vào trò chơi người lớn của Humbert. Something không phải là một từ cấu thành bài hát, mà nó chỉ là một chút ngâm nga mà chúng ta vẫn làm khi vừa hát vừa cố nhớ lại lời bài hát. Chính cái ngâm nga này đã là cái bẫy để Humbert Người lớn lôi kéo Lolita Trẻ con vào cuộc chơi của anh ta.

Nguyên bản bài hát trong chương 13:

O my Carmen, my little Carmen!               
Something, something those something nights,                
And the stars, and the cars, and the bars, and the barmen—               
And, O my charmin’, our dreadful fights. 
And the something town where so gaily, arm in                
Arm, we went, and our final row,                
And the gun I killed you with, O my Carmen,                
The gun I am holding now.



 Bài viết có tham khảo và lược dịch từ "Miranda: Music and Songs in Lolita, novel and film"

11 September 2012

Hoa Thanh Cúc (Cornflower)



Cornflower là một loại cây chưa có tên chính thức trong tiếng Việt, từ điển chỉ nói nó là "một loại cây dại (mọc trong ruộng ngô)"; nhưng rõ ràng là bê nguyên xi như thế qua bản dịch tiếng Việt thì... thà không dịch còn hơn!

Corflower thuộc họ Cúc, có tên khoa học là Centaurea cyanus, ngoài tên cornflower, nó còn được gọi là Bachelors button, Bluebottle, Boutonniere flower, Hurtsickle, Cyani flower. Loài hoa này hay mọc hoang dại trong các ruộng ngô, lúa,... có lẽ vì thế trong tiếng Anh, nó được gọi bằng cái tên dân dã là cornflower. Trong các văn bản tiếng Việt, khi nhắc đến nó người ta dùng rất nhiều tên tự đặt như: hoa ngô, hoa cúc áo, hoa thanh bình. 

Trong bản dịch Lolita, cornflower được dịch thành Thanh Cúc, bắt nguồn từ màu xanh biếc đặc trưng cho hoa của loài cây này, và từ việc nó thuộc họ Cúc.

Thanh Cúc là loài hoa rất được JFK (John F Kennedy yêu thích), là quốc hoa của Estonia từ năm 1968, và là biểu tượng của nhiều đảng phái, tổ chức chính trị khác.

Vài hình ảnh hoa Thanh Cúc:

Lolita: Hoa Thanh Cúc

Lolita: Hoa Thanh Cúc

Lolita: Hoa Thanh Cúc

Lolita: Hoa Thanh Cúc

7 September 2012

Ngôi nhà tuổi thơ Nabokov


Số 47, phố Bolshaya Morskaya Street, thành phố Saint-Petersburg, Liên bang Nga (Санкт-Петербург, Большая Морская улица, дом 47) là địa chỉ quen thuộc với nhiều người hâm mộ Lolita và các tác phẩm khác của nhà văn Nabokov. Hiện nay ngôi nhà tại địa chỉ này này là bảo tàng Nabokov. Nó từng thuộc sở hữu của gia đình nhà văn từ năm 1897. Vladimir Nabokov sinh ra tại ngôi nhà này vào năm 1899 và sống ở đó 18 năm đầu đời. Tháng 11 năm 1917, gia đình ông buộc phải rời bỏ Petrograd (tên hồi đó của thành phố Saint-Peterburg hiện nay). Từ ngày đó cho đến bây giờ, vẻ ngoài của ngôi nhà này hầu như không thay đổi, thậm chí số nhà cũng được giữ nguyên. 

Với Nabokov, đây là căn nhà duy nhất của ông trên toàn thế giới, vì trong cả cuộc đời lưu vong sau này ở châu Âu và Mỹ, ông không bao giờ mua bất cứ một căn nhà nào khác. 


Ngôi nhà của Nabokov ở Saint-Petersburg

Ngôi nhà của Nabokov ở Saint-Petersburg

Ngôi nhà của Nabokov ở Saint-Petersburg

Ngôi nhà của Nabokov ở Saint-Petersburg

3 September 2012

Humbert và Lolita

Lolita và Humbert trong phim Lolita 1997
Lolita và Humbert trong phim Lolita năm 1962



1 September 2012

Con búp bê vải và cuộc nói chuyện ở hàng hiên (chương 11)

Lolita Bản dịch tiếng Việt
Cảnh trong phim Lolita, 1997

Chương 11 có một đoạn tả Humbert, Lolita và Haze ngồi nói chuyện ngoài hàng hiên trong đêm tối:

Thứ Năm. Đêm qua chúng tôi ngồi ngoài hiên, cô Haze, Lolita và tôi. Chiều tàn ấm áp chậm chậm chìm vào bóng tối đắm say. Gái già vừa kể lại cực kỳ tỉ mỉ những tình tiết trong cuốn phim mà thị và L. đã xem hồi mùa đông trước. Chàng võ sỹ quyền anh đang hết sức cùng quẫn lúc chàng gặp thầy tu già tốt bụng (chính ông này từng là võ sỹ trong thời thanh niên trai tráng và vẫn còn có thể đấm gục kẻ phạm tội). Chúng tôi ngồi trên những tấm nệm chất đống trên sàn, L. ngồi giữa gái già và tôi (nàng tự chen vào, mèo con của tôi). Đến lượt mình, tôi bắt đầu bài tường thuật vui nhộn về chuyến phiêu lưu Bắc Cực của mình. Nữ thần sáng tạo dúi vào tay tôi khẩu súng săn và tôi nã đạn vào con gấu trắng làm nó ngồi phịch xuống kêu: Á! Ngay trong lúc ấy tôi cảm nhận sâu sắc là L. đâu đây thôi, lúc tôi vừa luyên thuyên vừa khoa tay múa chân trong bóng tối khoan dung và lợi dụng những cử chỉ không ai thấy được ấy để chạm vào cánh tay nàng, đôi vai nàng và con búp bê vũ nữ ba lê bằng len với vải mỏng trong suốt mà nàng đang nghịch ngợm và cứ cố đặt vào trong lòng tôi; 


Lolita Bản dịch tiếng Việt
Cảnh trong phim Lolita, 1997

Trong phim Lolita năm 1997, cảnh này được quay trên xích đu ngoài vườn. Lolita cũng ngồi giữa Humbert và Haze, cũng nghịch con búp bê,... nhưng có lẽ do quay đêm hơi khó, nên đạo diễn chuyển qua quay ban ngày, và thay vì đống nệm là cái xích đu.